Chủ Nhật, ngày 02 tháng 8 năm 2015

Tại sao giá vàng lại giảm?

20150725_blp501

Giá vàng, chạm đáy thấp nhất trong vòng 5 năm vào ngày 20 tháng 7 vừa qua, phản ánh thực tế cung và cầu hiện tại và kỳ vọng về tương lai. Kim loại màu vàng này phục vụ hai mục đích: nó là một loại hàng hóa (ví dụ như sử dụng trong đồ điện tử, nữ trang và nha khoa) và là nơi tích trữ giá trị – đặc biệt như một loại bảo hiểm đề phòng các biến động chính trị. Nhưng vàng không giống như những tài sản khác: nó không đem lại thu nhập, và phải mất chi phí để tích trữ nó. Vào thời điểm hiện tại, thứ kim loại ánh vàng này và những nhà đầu tư trung thành với nó đang gặp rắc rối. Giá vàng phục hồi mạnh mẽ sau khủng hoảng tài chính, nhưng chạm đỉnh vào năm 2011 và kể từ đó liên tục giảm. Một số người tin rằng giá vàng có thể xuống dưới mức 1.000 đô-la Mỹ một ounce trong năm nay.

Lý do trực tiếp nhất cho nỗi buồn của vàng là đồng đô-la mạnh. Vàng được định giá bằng đô-la, do đó nếu đồng tiền của Mỹ tăng giá, các nhà đầu tư sẽ hạ giá vàng xuống tương ứng. Một nguyên nhân khác là đồng đô-la đang tăng giá do sự hồi sinh của nền kinh tế Hoa Kỳ, điều sẽ đem đến viễn cảnh về việc tăng lãi suất ngân hàng. Đó lại là tin xấu với vàng. Lãi suất ngân hàng làm tăng chi phí cơ hội của việc giữ những tài sản không sinh lời: tiền bị giữ lại một cách vô ích trong những thỏi vàng lẽ ra đã có thể kiếm được một khoản lãi nếu được đầu tư vào kỳ phiếu kho bạc (Treasury bill)[1]  hoặc các tài sản ghi nợ khác. Lợi nhuận cao của các tập đoàn cũng có tác động tương tự: khi cổ tức dồi dào, cái giá của việc bỏ qua cơ hội đầu tư này rõ ràng là đáng kể.

                   Diễn biến giá vàng trong những năm gần đây. Nguồn: The Economist.

Hy vọng lớn của những người yêu thích vàng chính là việc Trung Quốc, khi nước này hướng đến việc đưa đồng Nhân dân tệ (NDT) trở thành một trong những đồng tiền dự trữ[2], sẽ đẩy mạnh tích trữ vàng tới ngưỡng kỷ lục ngang bằng với các ngân hàng trung ương tại phương Tây, nhằm tạo ra hình ảnh đáng tin cậy của đồng NDT đối với giới quan sát quốc tế. Nhưng dường như điều này lại đang không xảy ra. Trung Quốc đã tăng mức dự trữ vàng lên một chút. Nhưng kho vàng này vẫn còn rất nhỏ, và nếu tính theo tỷ lệ trên tổng dự trữ của nước này, việc tích trữ vàng của Trung Quốc đang thực sự giảm.

Vàng cũng đang gặp nhiều khó khăn do sự gia tăng đột biến của những tin tức chính trị tốt. Kế hoạch giải cứu của khu vực đồng euro đối với Hy Lạp đã làm giảm nguy cơ của một cuộc vỡ nợ hỗn loạn, và về việc nước này chia tay đồng tiền chung. Thỏa thuận hạt nhân với Iran làm giảm rủi ro chiến tranh (sự kiện thường đẩy giá vàng lên). Nó cũng tăng cơ hội có một thỏa thuận rộng hơn về các vấn đề Trung Đông khác như Syria. Như vậy chỉ còn có sự bi quan mới là nguyên nhân chính để giữ vàng.

Một số người sành về vàng tin rằng quy mô mà các ngân hàng trung ương đang tạo ra tiền không có cơ sở (được gọi là “Nới lỏng định lượng” – Quantitative easing – trong thuật ngữ của chính sách tiền tệ) sau cùng sẽ làm sụp đổ tài chính quốc tế. Nhưng vào thời điểm hiện tại, niềm tin của công chúng đối với các loại tín tệ (fiat money – tức tiền được đảm bảo bởi những lời hứa, chứ không phải bởi kim loại quý) là vẫn nguyên vẹ. Và, trớ trêu là, nếu nền kinh tế thế giới thực sự sụp đổ hoàn toàn, kim loại chì (dưới dạng những viên đạn) sẽ rất có thể còn hữu dụng hơn cả vàng.

Nguồn: “Why the gold price is falling”, The Economist, 20/07/2015.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

———————–

[1] Treasury bill (T-bill) là kỳ phiếu ngắn hạn được đảm bảo bởi chính phủ Hoa Kỳ với thời hạn thường dưới 1 năm.

[2] Trung Quốc đang cố gắng theo đuổi việc đưa đồng nhân dân tệ vào rổ tiền tệ dùng để tính giá trị tài sản dự trữ của Quỹ Tiền tệ Tuốc tế (IMF), được gọi là Quyền rút vốn đặc biệt (SDR). Hiện tại, rổ tiền tệ này bao gồm đồng euro, đồng yên Nhật, đồng bảng Anh, và đồng đô la Mỹ. IMF dự kiến biểu quyết về vấn đề này vào tháng 10/2015 – ND.

Thứ Bảy, ngày 01 tháng 8 năm 2015

Thuyết âm mưu giải thích chi tiết vì sao TPP được thông qua vào tháng 12-2016 or tháng 1-2 của năm 2017

Nhóm tinh anh thống trị thế giới hơn 200 năm nay nên họ biết sắp xếp lịch trình các sự kiện kinh tế - chính trị, trong đó có các hiệp định thương mại (TPP) vào thời điểm nào là hợp lý nhất.
Kế hoạch của họ:
Năm 2017 – 2018 tạo khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nếu năm 2007-2008 trò chơi bắt nguồn từ đất nước Hoa Kỳ với cuộc khủng hoảng nợ xấu bất động sản làm nền kinh tế thế giới chết nặng, nhóm tinh anh kiếm lời hàng ngàn tỷ usd.
Sau 10 năm trôi qua, các nước đã tăng trưởng lại, trò chơi cũ lại tái diễn, nhưng nơi khởi nguồn lại là 1 nơi khác, đó là Trung Hoa. Các nhà tài phiệt đã chọn thì không thể nào khác, nước đó bắt buộc phải xảy ra khủng hoảng kinh tế: thị trường chứng khoán và bất động sản đổ vỡ
Hội nghị Bilderberg năm 2013 diễn ra từ 6-9.6 tại khách sạn 5 sao Grove ở Wotford, Anh tập trung thảo luận vấn đề: có nên tiếp tục kéo dài khủng hoảng tài chính hay như vậy đã đủ để làm đầy thêm túi tiền của các gia đình tài phiệt “siêu giàu và siêu quyền lực” cũng như khuất phục những quốc giá khó bảo, nên làm gì với Trung Quốc và kế hoạch tấn công Iran trong vòng 3 năm tới.
Muốn tạo ra khủng hoảng kinh tế thì:
Trước đó (2016-2018) các nền kinh tế thế giới phải tăng trưởng -GDP mạnh (chỉnh sữa số liệu), thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản phải tăng điên cuồng bằng cầu ảo, cụ thể: các TTCK Mỹ, Nhật, Âu Châu, Hong Kong, China, Han Quoc, Việt Nam phải tăng cực mạnh. Ví dụ:
Dow Jones lên 20.800 – 21.000 điểm
Nikkei 225 lên 22.000 điểm
FTSE 100 lên 7.200 điểm
DAX lên 14.000 điểm
Hang Seng lên 27.000 điểm
ShangHai lên 6.000 điểm
Vn-Index lên 930 điểm
….
Vì sao trước đó TTCK, TT BDS phải tăng mạnh: vì khí tăng mạnh, nhóm tinh anh sẽ ăn 2 chiều: bán chốt lời hàng hóa sau khi mua gom hàng 3-5 năm trước; bán xong thì họ lại bán khống giá cao, để khi khủng hoảng kinh tế xảy ra họ lại cover lại giá rất rẻ, thường khủng hoảng kinh tế xảy ra thì giá hàng hóa giảm 200-300% là ít.
Muốn TTCK, TT BDS lên mạnh thì phải cần có các điều kiện sau:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế thế giới tăng tốt, GDP các nước tăng mạnh trong các năm 2016-2017-2018
Thứ hai, các hiệp định thương mại tự do mậu dịch, quan hệ song phương,..được hoàn tất vào lúc gần đỉnh của chu kỳ tăng giá mạnh, giống như WTO năm 2007 VN tham gia thì TTCK đạt đỉnh 1.174 điểm vào tháng 2 năm 2007, sau đó khủng hoảng kinh tế xảy ra vào tháng 9-2007 và HOSE giảm về 239 vào tháng 2-2009.
Người viết cho rằng, hiệp định TPP sẽ hoàn tất vào cuối năm 2016 và đầu năm 2017. Có 1 điều bất ngờ nữa là trong năm 2016, khả năng Hoa Kỳ sẽ mời Trung Quốc cùng tham gia vào TPP, hehehe…game này mới hay và lý thú, vì GDP China bắt buộc phải tăng mạnh vào năm 2017-2018 thì TPP là công cụ để làm việc đó, và cùng chính WTO, TPP sẽ là mồ chôn nền kinh tế Trung Quốc vì có các điều kiện kinh tế quyết định chính trị của China….Rất hay chỉ có ai tư duy khác biệt mới nhận ra
Thứ ba, làm cho giá gold thủng 1.000 usd/ounce, giảm về 870-900 usd/ounce vào năm 2017 để cho hơn 3 tỷ người trên thế giới bán gold giá đáy sau khi mua giá đỉnh và đổ tiền vào TTCK, TT BDS,…vay mượn từ bank để mua gấp đôi.
Thứ tư, đồng USD phải lên giá mạnh so với các ngoại tệ khác từ năm 2014-2017 vì USD lên giá thì những tài phiệt có USD nhiều (tỷ phú Mỹ) sẽ qua các nước khác thu mua tài sản giá rẻ và kích các tài sản này lên cao để bán chốt lời cho những người dân ngây thơ. Ví dụ: những nhà tài phiệt trong, ngoài nước đã tích lũy USD từ năm 2005-2010 lúc đó 1 USD = 17.000 VND thì nay 1 USD = 22.300 VND, trong những năm bds rẻ, cổ phiếu rẻ họ tích lũy mua vào rất nhiều, sau đó họ dùng tiền USD đổi ra tiền VN và kích tiếp từ từ lên dần và mạnh để tháo chạy vào 2017-2018.
Các đồng tiền của các nước khác trừ Mỹ ra, bắt buộc phải giảm giá trị mạnh vì: phải in tiền ra nhiều để đổi lại tiền USD qua nước họ và giảm giá trị đồng tiền để tăng xuất khẩu
Dự báo tiền tệ và kịch bản kinh tế 2018-2021:
Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra: đồng USD từ giai đoạn 2014-2017 đã tăng rất mạnh thì giai đoạn sau nó giảm cũng rất mạnh, mà đồng USD giảm mạnh thì các ngoại tệ khác so với USD sẽ tăng giá mạnh trở lại, gây là tình trạng lạm phát cao ở các nước đó. Ví dụ vào năm 2018-2021, kinh tế Trung Quốc sẽ gặp các vấn đề sau: kinh tế sụp giảm mạnh, xuất khẩu giảm mạnh, lạm phát tăng cực cao, thất nghiệp quá trời, lãi suất vay tăng mạnh, nợ xấu bùng nổ mạnh,…khi đó kinh tế VN cũng giống như China
Tổng kết bài viết:
Năm 2016, đại hội của Đảng lần thứ 12 diễn ra từ tháng 1-3 và sẽ bầu ra dàn ban lãnh đạo mới của Đất Nước Việt Nam, tháng 8-2016, có kết quả bầu cử Tổng Thống Mỹ (Tầng lớp tinh anh đã chọn Jep Busd là tổng thống của Hòa Kỳ, bầu cử,,,chỉ là chiêu trò hài làm cho vỡ kịch thêm đúng với sự thật thôi), nên tài phiệt chưa cho thông qua TPP vào năm 2015 mà để cuối 2016 or đầu 2017 mới thông qua TPP
Từ năm 2015 – 2017, TTCK thế giới và VN sẽ tăng từ từ, có tháng thì tăng cực mạnh nhưng tháng sau sẽ điều chỉnh giảm lại và sau đó đi lên tiếp, chứ không phải downtrend là Uptrend tính bằng năm, do ra chơi theo kiểu lướt sóng thì an toàn và thoải mái hơn: mua vùng đáy bán vùng đỉnh, tháng nào không có sóng thì đứng ngoài.

Dương Văn Kháng, thất nghiệp không có nơi nượng tựa, haha…

Chuyên gia Mỹ: Thế chiến lần 3 sẽ nhằm chống Trung Quốc

"Đối với các chuyên gia Mỹ, trận đại chiến thế giới lần tới sẽ…nhằm đối phó với Trung Quốc". Đó là tựa đề bài báo của thông tín viên Le Figaro tại New York, viết về cuốn sách "Hạm đội ma, câu chuyện của Thế chiến lần tới" của hai tác giả Peter Warren Singer và August Cole, xuất bản tại Mỹ.

Chuyên gia Mỹ: Thế chiến lần 3 sẽ nhằm chống Trung Quốc
Các quân nhân của hàng không mẫu hạm USS George Washington cứu các nạn nhân từ tàu đánh cá bị cháy. Ảnh nguồn Wikipedia

Bốn năm điều tra trong các hành lang của Lầu Năm Góc đã giúp tác phẩm dự báo chiến lược này có được nhiều chi tiết phong phú và thực tế.

Kịch bản của Đệ tam Thế chiến như sau. Một phi hành gia Mỹ bị trục xuất khỏi trạm không gia quốc tế bởi những người mà anh ngỡ là các đồng nghiệp – người Nga và Trung Quốc. Một "nhóm lãnh đạo" các nước đế quốc quyết định lật đổ chế độ Bắc Kinh, tuyên bổ tổng tấn công tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.

Hawai bị hải quân Trung Quốc tiến công bất ngờ và chinh phục. Động cơ của các chiến hạm thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị virus máy tính vô hiệu hóa từ xa. Các phi cơ tiêm kích Mỹ và Nga chiến đấu trên bầu trời vùng Viễn Đông. Phi hành gia Trung Quốc và Mỹ tấn công nhau trong không gian bằng những khẩu súng laser y như trong bộ phim gián điệp Moonraker.

Phim giả tưởng Hollywood chăng? Đối với hai tác giả Peter Warren Singer và August Cole, tất cả đều rất hiện thực và có thể xảy ra trong tương lai gần.

Trong trụ sở sang trọng, rộng rãi của cơ quan tư vấn New America Center đặt tại đại lộ số 20, gần tòa nhà chọc trời đầu tiên của New York, Flat Iron, hai chuyên gia quốc phòng từng là cố vấn của Lầu Năm Góc và cựu phóng viên chuyên trách của Wall Street Journal, giới thiệu kểt cấu cuốn tiểu thuyết đầu tay của họ: "Ghost Fleet" (Hạm đội ma).

Một tác phẩm đi trước thời đại, được bán ở quầy sách viễn tưởng, nhưng giá trị tiên liệu của nó nằm ở 400 ghi chú ở cuối trang, và bốn năm tích cực điều tra trong các hành lang Ngũ Giác Đài, trên các chiến hạm và căn cứ Không quân.

Kết quả đã gây không ít sững sờ cho các bạn đọc. Ngoài phong cách, hai tác giả trẻ là những người đầu tiên đưa ra những dự báo chiến lược, hết sức sát với thực tế.

Tác giả Singer cho biết bản thảo được chuyền tay ở Lầu Năm Góc. Đô đốc James Stavridis, nguyên Tổng tham mưu trưởng các lực lượng Mỹ tại Đông Âu hoan nghênh tính thực tiễn và chính xác về kỹ thuật của tác phẩm.

Các tác giả Singer và August dường như đã không bịa ra bất cứ điều gì cả. Tất cả các phát minh khoa học đều có thực, từ tàu ngầm Trung Quốc sục sạo dưới đáy biển tìm kiếm khí thiên nhiên, các máy bay không người lái – cánh tay nối dài của các phi công Mỹ và Nga, hỏa tiễn sát thương phóng từ vệ tinh, cho đến những sự cố máy tính có thể vô hiệu hóa toàn bộ Hạm đội Thái Bình Dương, hay các cuộc chiến tranh tin học ác liệt giữa các hacker Trung Quốc và các chuyên gia tin học ái quốc ở thung lũng Silicon, California.

Giả thiết và thực tại

Thời sự gần đây cho thấy hai tác giả có vẻ đúng đắn.

Bắc Kinh đang dấn mạnh nước cờ trên vùng biển nóng, bồi đắp và xây dựng trên các hòn đảo nhỏ xa xôi, vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam, Philippines và Nhật Bản. Những oanh tạc cơ bốn động cơ sơn ngôi sao đỏ bay đến thử sức lực lượng phía bắc của NATO – điều chưa từng thấy kể từ thời Brejnev.

Ukraine bị cắt làm đôi, trong khi điện Kremli ra sức chống lại trừng phạt của Phương Tây.

Kết quả là 34 hiệp định đối tác chiến lược được ký kết chỉ trong vòng một năm giữa Moscow và Bắc Kinh. Nhưng các tác giả cảnh báo, nếu nước Nga lao vào một cuộc xung đột với Mỹ, thì chỉ trở thành một kẻ a tòng yếu đuối của Trung Quốc: Đơn giản bởi Nga quá bạc nhược về kinh tế và dân số để có thể chống lại sự thống trị của Bắc Kinh.

Một đợt tấn công tin học quy mô mới đây vào các mạng lưới dân sự và quân sự Mỹ cho thấy sự hung hăng cực độ của các hacker, mà phía Mỹ nhận dạng là Trung Quốc.

Vì sao số liệu về lương hưu của gần 4 triệu công chức Mỹ lại bị cướp đoạt? Tac giả Singer lý giải: "Đó là một ví dụ cổ điển về tính toán chiến lược. Tích lũy các dữ liệu cần thiết hôm nay, để khai thác khi xung đột trong 5 hay 10 năm tới".

Chương trình chiến đấu cơ F35, với số đầu tư khổng lồ, đã gặp trở ngại do hàng loạt sự chậm trễ và hỏng hóc đáng kể. August cho rằng: "Không có gì đáng ngạc nhiên, nếu ý thức được rằng 80% các thành phần điện tử là made in China!".

Với giả thuyết tình hình căng thẳng ở Thái Bình Dương sẽ diễn biến xấu đi thành "chiến tranh nóng", Hoa Kỳ chẳng bao lâu sẽ thiếu hụt các chip điện tử. Để chinh phục được con rắn bảy đầu Bắc Kinh, Mỹ đành phải huy động các chiến hạm cũ kỹ lỗi thời từ lâu bị quên lãng, nhưng không hề hấn trước tin tặc. "Hạm đội ma" đã thực sự hiện diện.

Hai tác giả đẩy cuộc đối đầu hai phe Hồi giáo Sunni và Shia xuống hàng thứ yếu, cho rằng khó thể trở nên toàn cầu hóa như sự đối đầu Mỹ-Trung. Họ nhận định, chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo tuy tàn bạo nhưng không thể phá hoại trên toàn thế giới như trong một cuộc chiến tranh nóng giữa các siêu cường.

Theo các tác giả, công trình này mang tính thiện chí. Có thể các lãnh đạo quân sự và chính trị, bắt đầu từ Quốc hội Mỹ vốn không muốn tăng ngân sách quốc phòng, có thể mở mắt ra trước mối đe dọa trầm trọng và nghiêm túc chuẩn bị đáp trả.

Le Figaro kết luận, trong các tác phẩm của Tom Clancy, nước Mỹ của siêu gián điệp Jack Ryan luôn là người chiến thắng ở hồi cuối, nhưng trên thế giới thực tại, thì không luôn luôn phải như vậy.

VƯƠNG TIẾN

(BizLIVE)

Thứ Ba, ngày 14 tháng 7 năm 2015

Cả cuộc đời của con người, rốt cuộc là truy cầu điều gì?

(Ảnh: internet)
                                                                         (Ảnh: internet)

Một cô gái người Hoa nhiệt tình giới thiệu cho chàng trai người Anh đến Trung Quốc dạy học, chàng trai hỏi cô gái một câu, khiến cô gái có chút choáng váng!

 Tại một thị trấn nhỏ của nước Anh, có một chàng trai, kiếm sống bằng cách hát rong trên đường phố. Cũng ở khu đó, có một cô gái người Hoa, rời xa gia đình đến đó để làm thuê. Cả hai thường đến một nhà hàng nhỏ để ăn cơm, thế là sau nhiều lần gặp nhau họ đã trở nên thân thiết.

Một ngày, cô gái người Hoa nói với người thanh niên đó: “Đừng đi hát rong nữa, hãy làm một nghề nghiệp gì đó đi. Tôi giới thiệu cho anh đến Trung Quốc dạy học, ở đó, anh hoàn toàn có thể kiếm được nhiều tiền hơn công việc hiện tại”.

maxresdefault
                                                                        (Ảnh: internet)

Người thanh niên nghe xong, lúc đầu còn có chút bất ngờ, sau đó mới hỏi lại: “Chẳng lẽ công việc hiện tại của tôi không phải là một nghề nghiệp ư? Tôi thích nghề này, nó mang đến cho tôi và những người khác niềm vui, có gì là không tốt chứ? Tôi cần gì phải đi xa nghìn trùng, vứt bỏ người thân, vứt bỏ gia đình, đi làm công việc mà tôi cũng không thích?“

Ở bên nước Anh, bất kể là người già hay trẻ nhỏ, họ đều ngạc nhiên, họ không hiểu được tại sao chỉ vì để kiếm thêm được một chút tiền mà phải vứt bỏ người thân, từ bỏ hạnh phúc, có cái gì đáng giá vậy? Ở trong mắt họ, gia đình đoàn tụ, bình an yên ổn, đó mới là hạnh phúc nhất. Mọi người trong thị trấn nhỏ này đều cảm thấy rằng cô gái này quá là đáng thương.

Cả cuộc đời của con người, rốt cuộc là truy cầu điều gì?

Một thương nhân người Mỹ ngồi trên bến tàu của một làng chài nhỏ trên bờ biển Mexico, xem một ngư dân Mexico đang chèo chiếc thuyền nhỏ cập bến. Trên chiếc thuyền nhỏ có một vài chiếc đuôi cá Đại Hoàng và vây Cá Ngừ. Vị thương nhân người Mỹ này khen ngợi người ngư dân Mexico bắt được loại cá có giá trị cao như thế, và còn hỏi người ngư dân đã mất bao nhiêu lâu để bắt được số cá đó. Người ngư dân Mexico nói, chỉ một lát là bắt được từng đó rồi. Vị thương nhân người Mỹ lại hỏi, anh tại sao lại không nán lại lâu hơn một chút để bắt được thật nhiều cá hơn? Người ngư dân Mexico cảm thấy không cần làm như thế liền nói: “Số cá này là đã đủ cho người nhà tôi dùng rồi!”

Vị thương nhân người Mỹ hỏi: “Như thế thì thời gian trong ngày của anh còn rất nhiều, anh làm những việc gì?”

Người ngư dân Mexico giải thích: “Tôi à? Tôi mỗi ngày ngủ đến lúc hết buồn ngủ mới dậy, ra biển đánh bắt mấy con cá, sau đó trở về nhà chơi cùng các con, rồi ngủ trưa cùng vợ, lúc hoàng hôn đến, cùng với anh em uống chút rượu, chơi đàn ghi ta. Cuộc sống của tôi trôi qua vô cùng tốt đẹp.”

(Ảnh: internet)
                                                                        (Ảnh: internet)

Thương nhân người Mỹ cho rằng như thế là không tốt liền nghĩ kế giúp người ngư dân, anh ta nói: “Tôi là thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường Đại học Harvard tôi có thể giúp anh bận rộn hơn, mỗi ngày anh hãy dành nhiều thời gian đi bắt cá hơn, đến khi đó anh sẽ có tiền để mua một chiếc thuyền to hơn một chút, đương nhiên anh sẽ bắt được nhiều cá hơn nữa, anh lại mua được một chiếc thuyền to hơn nữa, sau đó anh có thể có được cả một đoàn thuyền đánh cá”

Đến lúc đó anh không cần phải mang cá đi bán cho người buôn cá, mà trực tiếp bán cho cơ sở chế biến cá, sau nữa anh có thể mở một nhà máy chế biến đồ hộp, như thế anh có thể kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất, gia công, tiêu thụ. Sau đó anh có thể từ bỏ làng chài nhỏ này, chuyển đến Mexico, lại chuyển đến Los Angeles, cuối cùng là đến New York, ở đó xí nghiệp kinh doanh của anh sẽ không ngừng phát triển mở rộng.

Người ngư dân Mexico hỏi: “Điều này phải mất bao nhiêu thời gian đây?”

Vị thương nhân người Mỹ trả lời: “15 đến 20 năm”

Người ngư dân Mexico hỏi: “Vậy còn sau đó thì sao?”

Vị thương nhân người Mỹ cười lớn và nói: “Sau đó thì anh có thể ở nhà làm hoàng đế! Thời cơ thích hợp đến, anh có thể đưa cổ phiếu ra thị trường, bán cổ phần của Công ty anh cho dân chúng, đến lúc đó anh sẽ giàu có đấy, anh có thể có vài tỷ, vài tỷ đô la tiền lợi nhuận.”

“Tiếp sau đó nữa thì sao?”

Vị người Mỹ nói: “Cho đến lúc đó anh có thể nghỉ hưu, anh có thể đến bờ biển của làng chài nhỏ mà sinh sống, mỗi ngày ngủ đến tỉnh ngủ mới dậy, ra bờ biển bắt vài con cá, chơi cùng các con, lại cùng vợ ngủ trưa, lúc hoàng hôn, lại cùng anh em trong thôn uống chút rượu và chơi đàn ghi- ta.”

Người ngư dân Mexico nghi ngại nói: “Tôi hiện tại chẳng đúng là đang như thế sao?”

Gia đình hòa thuận, cuộc sống yên bình, chẳng phải đã là một loại thành công và hạnh phúc sao?

Theo NTDTV

Mai Trà biên dịch

(Đại Kỷ Nguyên)

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 7 năm 2015

Vài bệnh mãn tính của trí thức Việt

Ngày nay, các bác sỹ thường khuyên chúng ta phải kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu không muốn bị đột tử ( tim mạch) hay mắc các bệnh nan y (như ung thư). Trong “thế giới phẳng”, Tom Friedman cũng khuyên các doanh nghiệp phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên, nếu muốn tồn tại và phát triển. Không biết giới trí thức Việt có kiểm tra sức khỏe và khám bệnh thường xuyên không, và có thừa nhận bệnh tật của mình không?

Có lẽ việc này cần hơn là “định nghĩa lại trí thức”. Tại sao phải định nghĩa lại? Chẳng lẽ lâu nay chúng ta không biết trí thức là gì, là ai, và làm gì. Đã qua rồi cái thời ông Mao điên rồ và xảo quyệt nói bậy: “trí thức không giá trị bằng cục phân”, hay cái thời mấy ông Việt Minh ngây ngô và cuồng tín, bắt chước ông Mao: “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Họ không hiểu vùi dập trí thức là đồng nghĩa với tự sát quốc gia.

Tuy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, bởi căn nguyên là cực đoan và cuồng tín chưa chết, vẫn còn lẩn khuất trong chính chúng ta.Nếu chịu khó quan sátta có thể nhận diện một số căn bệnh mãn tính điển hình của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt. Họ là thành phần ưu tú của quốc gia, làm đầu tàu thúc đẩy tiến bộ xã hội, nên cần quan tâm và khám bệnh, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen (mấy ông này uống và hút dữ lắm!). 

Những nhận xét dưới đây có thể đúng, có thể sai, có thể bổ sung, có thể tranh luận, nhưng là cần thiết. Đừng vội phủ định hay khẳng định ngay.

Hay định kiến và chia rẽ

Người ta hay nói (nửa đùa nửa thật) rằng một người Việt thì không thua kém một người nước khác, nhưng ba người Việt thì chắc thua kém một người nước khácBởi vì ba người Việt thường không hợp sức mà chia rẽ, tự phân hóa và vô hiệu hóa nhauKhông hiểu vì sao tínhcá thể của người Việt rất cao, nhưng tính cộng đồng rất thấp. Đây là một nghịch lý mang bản sắc Việt Nam (không giống người Trung Hoa). Cũng chưa thấy tài liệu nghiên cứu nào phân tích xem đây là do tính bản địa, hay là do ảnh hưởng của văn hóa Pháp (xin lỗi mấy ông tây nhé!) Chỉ biết rằng người Việt có tiếng là hay định kiến và chia rẽhay cãi nhau không ai chịu ai. Càng trí thức, càng hay cố chấp và chia rẽ khỏe. Chưa thể lý giải ngay được, nhưng có thể do cực đoan và bảo thủ. Làm việc nhóm rất khó, không phát huy được nội lực vàkhông kết nối được năng lượng (synergy). Rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Có lẽ vì biết như vậy nên cụ Hồ mới nhấn mạnh đoàn kết “như con ngươi của mắt mình”, nghĩa là không đoàn kết thì mù luôn. Hy vọng Việt Nam không phải là một “thung lũng mù”!

Gần đây, đáng mừng là đã xuất hiện một số hội đoàn độc lập theo hướng dân chủ hóa và cởi mở hơn, như xã hội công dân. Nhưng đáng buồn là các hội đoàn mới này cũng khó phát triển nhanh và mạnh được. Không phải chỉ vì số lượng ít, nguồn lực thiếu thốn, bị chính quyền ngăn cản, mà bản thân nội bộ cố chấp và chia rẽ, rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Nghe nói vừa mới hình thành đã cãi nhau rồi. Chưa cần bên ngoài phá, bên trong đã tự phân hóa rồiCó lẽ cũng vì vậy mà hòa hợp và hòa giải dân tọc mới khó thế. Khi nói đến dân trí, người ta thường hiểu theo nghĩa cộng đồng chứ không phải từng cá thể. Nếu cứ định kiến và chia rẽ như vậy thì làm sao có thể nâng cao dân trí, làm sao có thể “thoát Trung”?

Không chịu lắng nghe

Theo nguyên lý truyền thông, lắng nghe quan trọng hơn cả nói, để thu lượm và sàng lọc thông tin cần thiết. Phải bình tâm mới lắng ngheđược người khác, để hiểu được cả những điều người khác không nói ra. Điều này càng quan trọng trong thời đại bùng nổ truyền thông kỹ thuật sốMuốn lắng nghe phải khiêm tốn, chân thành, nhạy cảmNgười ta nói xã hội càng “high-tech” thì con người càng phải “high-touch”. Ta thường làm ngược lại. Gần đây, Việt Nam được xếp vào nhóm nước vô cảm nhất thế giới (trong khi chưa “high-tech”). Đa sốngười Việt, nhất là giới trí thức, chỉ thích nói cho người khác nghe, mà không chịu lắng nghe người khác nói. Một số người còn hay “xoa đầu” và dạy bảo người khác (nhất là đối với lớp trẻ)Họ thường vô cảm, không hiểu được người khác muốn gì, nghĩ gì. Thế hệ già không hiểu thế hệ trẻ. Bắc - Nam, trong - ngoài, không hiểu được nhau. Thói quen không chịu lắng nghe có thể do thái độ ngạo mạn, coi thường người khác, luôn cho mình là đúng, ai không giống mình là sai.

Trong bộ máy công quyền trước đây, người ta quen độc quyền thông tin theo cấp bậc. Có một thời, chỉ có lãnh đạo mới được đọc “bản tin tham khảo” (lấy từ các hãng thông tấn nước ngoài). Thời ấy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, vì hệ tư tưởng cũ chưa thay đổi. Một khi trong đầu đã chứa định kiến gì, thì người ta hay cố chấp, luôn phủ định hoặc khẳng định, mà không cần lắng nghe để tìm hiểu sự thật. Không chịu lắng nghe và chia sẻ thông tin thường dẫn đến định kiến và chia rẽ. Điều đáng nói là không phải chỉ có những người cộng sản (cuồng tín) mà cả những người chống cộng (cực đoan) đều mắc phải căn bệnh mãn tính này. Trí thức mà định kiến và cực đoan thì còn nguy hiểm hơn cả người khác.  
  
Học giả nhiều hơn học thật

Chưa thấy ở đâu người ta coi trọng bằng cấp và học hàm học vị một cách cực đoan như ở Việt Nam. Giới thiệu ông trí thức nào mà thiếu cái tít “GSTS” là toi. Trong khi đó dân chúng gọi GSTS là “gà sống thiến sót” (xin lỗi không phải tôi nói!). Vì vậy, nhu cầu “học giả” và làm “bằng giả” trở thành một thị trường ngầm phát đạt, như một khối u mãn tính, làm mấy đời bộ trưởng giáo dục đành chào thua. Điều đáng nói là nó không chỉ phổ biến trong nhà trường mà còn trong giới công chức và trí thức. Một quốc gia có trên 90 triệu dân (một nguồn tài nguyên quý mà chắc nhiều nước thèm muốn) nhưng chất lượng nguồn nhân lực đang khủng hoảng đến mức báo động. Chúng ta không lo giới trí thức Việt nhỏ bé, nhưng rất lo chất lượng dân trí còn thấp, bị phân hóa và vô hiệu hóa quá nhiều và quá lâu. Vì vậy, trí thức thật thì ít, trí thức giả thì nhiều. Giới trí thức Việt giống như một bức tranh “mosaic” nhiều màu sắc khó tảrất đặc thù chẳng giống ai, mang đậm “bản sắc” Việt Nam.

Nguồn gốc trí thức Việt đại khái có mấy thế hệ. Thế hệ những người “học tây thời trước (cả Bắc lẫn Nam) là trí thức thật, nhưng vừa quá ít vừa “quá date” (passé rồi), nếu chưa chết hoặc không nhanh chân ra nước ngoài thì cũng đã bị vô hiệu hóa bởi thời thế hoặc thời gian. Thế hệ thiếu sinh quân” (thời chống Pháp) được chọn đi học Trung Quốc/Liên Xô, đa số đã trở thành quan chứcmột số khác có tài đã trởthành trí thức thật, nhưng nay đã về hưu. Thế hệ “học Đông Âu” (thời chiến tranh với Mỹ), tuy đông nhưng bị phân hóa, đa số thực dụng buôn bán kinh doanh giàu lên nhanh như “tướng soái”, một số trở thành tư bản đỏ (đang lũng đoạn thị trường), nhưng vẫn giữ cái mũ phó tiến sĩ hoặc tiến sĩ dổm, một số khác có tài theo đuổi khoa học nghệ thuật, thường bị vô hiệu hóa, hoặc phải nhập quốc tịch nước khác. Thế hệ đi học các nước “phương tây” (sau chiến tranh) ngày càng đông và đa dạngđa số kinh doanhmột số làm công chức, một số khác làm cho nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài. Trí thức người Việt sống ở nước ngoài là một nguồn nhân lực quan trọng, có nhiều nhân tài, có lòng ái quốc, có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước và làm cầu nối với thế giới, nhưng chưa được thực sự trân trọng.    

Im lặng trùm chăn

Trong bối cảnh xã hội chuyển đổiđầy biến động và rủi ro, giới trí thức thường là đội ngũ tiên phong dẫn dắt xã hội đổi mới và phát triển.Nhưng đáng tiếc, giới trí thức văn nghệ sĩ Việt đã bị “thui chột” sau những kinh nghiệm đau buồn như “cải cách ruộng đất” và “nhân văn gia phẩm”, nên đa số thường “trùm chăn”, không dám lên tiếng, vì sợ. Đây là cái sợ titàng đã đi vào tiềm thức ít nhất hai thế hệ, nên muốn thoát khỏi nó phải cam đảm để phản tỉnh. Đến nay, hệ thống kiểm soát và kiểm duyệt (văn hóa tư tưởng) về cơ bản vẫn chưa thay đổi, với hồ sơ nhân quyền đang là vấn nạn trong quan hệ với Mỹ và phương Tây (giống như vấn đề MIA trước đây). Trong bối cảnh đógiới trí thức văn nghệ sĩ “trùm chăn” là dễ hiểu. Quá trình phản tỉnh để thoát khỏi nỗi sợ không đơn giản, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Có những người đến cuối đời mới dám lên tiếng nói ra sự thật (như tác giả “Đèn Cù”).

Bên cạnh đa số im lặng trùm chăn (silent majority), có một thiểu số lớn tiếng (vocal minority). Những người đã định cư ở nước ngoài thường “dũng cảm” hơn và “lớn tiếng” hơn những người trong nước. Một số quá khích và nôn nóng muốn thay đổi ngay. Một số khác trong lòng còn nặng hận thù và cố chấp, chỉ thích chửi nhưng không đề ra được giải pháp. Ai cũng muốn thay đổi, nhưng nếu không có giải pháp khả thi, thì thành viển vông. Vì vậy, cần tránh cả khuynh hướng “trùm chăn” lẫn “quá khích”. Nếu bình tâm nhìn kỹ thì quá trình dân chủ hóa trên thế giới tuy đa dạng và phức tạp, nhưng có quy luật, cần thời gian. Qua kinh nghiệm nhiều nước đã chuyển đổi (trong 40 năm qua) người ta thấy cách tốt nhất là đấu tranh ôn hòa, thông qua “Bất tuân Dân sự”. Phong trào dân chủ gần đây tại Hong Kong là một ví dụ, khác nhiều so với thời Thiên An Môn. Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, muốn đấu tranh hiệu quả phải có dân trí cao,  ứng dụng công nghệ cao, dùng “sức mạnh mềm” đối phó với “sức mạnh cứng”, biết kết nối quốc tế để vận dụng sức mạnh toàn cầu (global synergy).     

Hội nhập quốc tế chậm

Trong thời đại toàn cầu hóa, giới trí thức đáng lẽ phải hội nhập quốc tế nhanh hơn những nhóm người khác, để dẫn dắt họ trong quá trình đổi mới và phát triểnĐáng tiếc, giới trí thức Viêt hội nhập quốc tế hơi chậm so với các nước khác đang chuyển đổi. Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chính sách kiểm soát và kiểm duyệt chặt chẽ với các quy định lạc hậu, không khuyến khích và tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập quốc tế. Thứ hai, bị đóng cửa quá lâu nên giới trí thức bị “nội địa hóa” quá nhiều, một số mang tâm lý bài ngoại, không quen hội nhập. Thứ ba, hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cũng làm cho việc giao lưu, hội nhập của trí thức với thế giới bên ngoài khó khăn. Tuy nhiên, thế hệ trí thức trẻ học tại các nước Phương Tây sau này ngày càng đông,  riêng học tại Mỹ đến nay là 16.500 người (sau 20 năm). Họ không bị hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cản trở, giao lưu và hội nhập dễ dàng. Đây là một nguồn nhân lực và một lớp trí thức mới quan trọng, nhưng chưa được coi trọng đúng mức.

Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, liên kết và giao lưu quốc tế vô cùng quan trọng, giúp cho những người trí thức mở rộng tầm nhìn, không kỳ thị dân tộc, ngăn ngừa xu hướng dân tộc cực đoan và bạo lực giữa các quốc gia. Theo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, chỉ khi nào giới trí thức trưởng thành như một thế lực mạnh trong xã hội, và nhân tài được trọng dụng như tài sản quốc gia, thì đất nước đó mới thực sự phát triển. Nhưng trước hết, giới trí thức Việt cần chữa trị các bệnh mãn tính nói trên.      

Nguyễn Quang Dy

Thứ Hai, ngày 29 tháng 6 năm 2015

TPP - Việt Nam Học gì từ Mexico?


TPP - Học gì từ Nafta?

Lâu lâu đọc mấy bài của mấy anh chị nhà báo tung hê TPP mà chẳng hiểu thực ra họ có hiểu TPP là gì hay chăng? Vì sao các điều khoản đàm phán không công khai? TTP sẽ làm gì cho nền kinh tế dạng "tiểu nông" của Việt Nam?

Trước tiên cần phải nhìn rõ thực tế:

- Hầu hết nông nghiệp của Mỹ được cơ giới hóa và được nhà nước trợ giá bằng nhiều hình thức khác nhau và từ đó giá thành sẽ gần như không tăng hoặc tăng không đáng kể. Trong khi đó ở Việt Nam vẫn làm thủ công, dựa vào sức người là chính và nếu muốn cạnh tranh, chỉ có thể hạ giá thành tới mức tối đa điều đó đồng nghĩa với việc thu nhập của nông dân sẽ không tăng. Từ đó cho thấy, nông nghiệp Việt Nam không được hưởng lợi gì từ TPP.

- Công nghiệp Việt Nam cho tới giờ vẫn ở thời kỳ sơ khai. Trong khi đó Hoa Kỳ đã đạt tới đỉnh cao của khoa học kỹ thuật. Hầu hết các công ty vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với những ông chủ từ Hoa Kỳ và phá sản, bị thâu tóm là điều chắc chắn sẽ xảy ra và rốt cuộc Việt Nam sẽ trở thành một thị trường tiêu thụ, không sản xuất.

Chưa xét tới khía cạnh luật pháp, nhà nước, doanh nghiệp, Việt Nam sẽ học được gì ở Mexico?

Bài học lịch sử: 

Nafta - Hiệp ước tự do thương mại bắc châu Mỹ giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico ký kết cách đây 21 năm, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1994. Với lời hứa của chính quyền Hoa Kỳ rằng, hiệp ước sẽ tạo ra việc làm cho ít nhất 200.000 chỉ riêng ở Hoa Kỳ cùng với đó là sự tăng trưởng ngoạn mục về kinh tế cho Mexico, ổn định cho Canada. 

Lợi và hại cho các bên qua thời gian:

- Theo "Washingtoner Economic Policy Institut", khoảng 700.000 người ở Hoa Kỳ đã mất việc.(Public Citizen cho rằng khoảng 1 triệu). Do Nafta gây áp lực lên nền kinh tế của Mexico khiến cho làn sóng di dân sang Hoa Kỳ làm việc tăng cao. Tại Hoa Kỳ họ đã trở thành những công nhân lao động rẻ tiền, khiến cho thu nhập của người dân Hoa Kỳ vì cạnh tranh không được cải thiện mà phần lớn chảy vào túi tài phiệt: Tầng lớp thượng lưu khoảng 10% đã tăng thu nhập lên tới 24% và tầng lớp siêu giàu thậm chí tăng lên tới 58% trong vòng 10 năm.

- Nông dân Mexico phải đối mặt với sức cạnh tranh quá lớn khiến cho đời sống ngày càng khó khăn. Một trong những ví dụ là khoảng 3 triệu nông dân trồng ngô mà người đại diện của họ là ông Héctor Carlos Salazar đã so sánh "Mexico chúng tôi chỉ có 29 triệu Ha đất trồng trọt, trong khi đó Hoa Kỳ có 179 triệu Ha. Mỗi năm Mexico trợ giá cho nông dân bình quân 700 USD thì Hoa Kỳ lên tới 21.000 USD."

- Kể từ năm 1991 cho tới nay, khoảng 3000 nông dân trồng ngô đã mất việc cùng với khoảng 1 triệu nông dân khác trên cả nước. Từ đó dẫn tới Mexico sản xuất đủ lương thực ngày nay phải nhập khẩu 60% lúa mạch, 70% gạo.

- Năm 2008 là thời điểm toàn bộ hàng rào thuế quan của Nafta được xóa bỏ cũng là thời điểm hàng loạt nông dân Mexico không còn khả năng sản xuất, phải bán ruộng đất và sau đó đi làm thuê.

- Một số mặt hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ vào Mexico tăng lên tới 500% chỉ trong vòng chưa tới 20 năm. Ví dụ: Ngô, đậu, thịt gia súc, gia cầm. Phần đa các mặt hàng đó được bán tại Mexico dưới mức giá thành (của Mexico) 20% khiến cho nông dân Mexico không còn khả năng cạnh tranh.

Kết luận: Trong lúc Mexico chưa kịp công nghiệp hóa thì ngành nông nghiệp đã gần như phá sản, đất nước phụ thuộc hoàn toàn vào Hoa Kỳ là chiếc bánh vẽ Nafta mang lại. Mexico quá khứ không phải là một nước nghèo, hậu quả còn như vậy. Nếu Việt Nam ký TPP, nội chiến là điều khó tránh khỏi!

Karel Phùng

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 6 năm 2015

Mối quan hệ chiến lược Mỹ - Trung cùng có lời cho cả hai, hi sinh đồng minh?

"Kịch bản NIXXON - MAO" Thế hệ thứ hai
Bài viết của Triệu Minh Hạo(Minghao Zhao), ông là một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Trung Hoa Nghiên cứu thế giới đương đại, là chuyên gia cố vấn của Phân ban Quốc tế thuộc Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Hoa. Ông cũng là người điều hành Tạp chí đánh giá Chiến lược Quốc tế Trung Hoa và ông cũng là một thành viên không chính thức tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Đại học Bắc Kinh.

Bài viết gốc: “Mao-Nixon” 2.0

BẮC KINH - "Hội nghị thượng đỉnh tại Sunnylands"(*), nơi mà Chủ tịch Trung Hoa Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Barack Obama gặp nhau tại một cơ ngơi tư nhân ở California cuối tuần này, có thể chứng minh được một bước ngoặt trong quan hệ giữa các nền kinh tế lớn nhất và lớn thứ hai trên thế giới. Thật vậy, những gì Tập mong muốn từ cuộc họp - cụ thể là, "một loại mới của mối quan hệ giữa các cường quốc" – nguồn gốc khái niệm của nó là từ các cuộc họp lịch sử giữa Mao Trạch Đông và Richard Nixon vào năm 1972.

Năm 1969, những thách thức quan trọng nhất trong cuộc tổng tuyển cử cho chức vị tổng thống Mỹ của Nixon là kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam và đối phó với Liên Xô ngày càng hung hăng. Trung Hoa là quan trọng cho đề án lớn của Nixon là phải giải quyết những vấn đề nan giải này.

Thật vậy, Trung Hoa đã đóng một vai trò đặc biệt trong việc hỗ trợ Bắc Việt Nam chống lại Mỹ, trong khi đó những mối quan hệ của Trung Hoa với Liên Xô là cơm không lành canh không ngọt do những cuộc đụng độ bạo lực dọc biên giới sông Amur(**) làm chia rẻ Liên Xô và Trung Hoa. Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, cảm nhận rằng đó là thời điểm để vừa khôi phục lại mối quan hệ với Trung Hoa, vừa giải quyết lo sợ tham vọng bá quyền của Liên Xô. Nixon và Kissinger đã qua mặt Bộ Ngoại giao Mỹ và Quốc hội, và đã tạo ra mối liên lạc với Trung Hoa thông qua các kênh bí mật ở Pakistan và Romania.

Trong ba năm sau đó kể từ 1969, hai nước đã bằng mọi cách vượt qua sự khác biệt về ý thức hệ, hòng để đạt được một sự thỏa hiệp trên lưng Liên Xô, Việt Nam, và thậm chí cả Nhật Bản, trong khi đảm bảo rằng "Vấn đề Đài Loan" không trở thành một nguồn gây nguy hiểm cho lợi ích thực sự của cả hai quốc gia, khi mọi chuyển động nhằm vào việc cải thiện quan hệ. Theo như các hiệp định giữa hai bên đã nêu ra, Nixon đã đến thăm Trung Hoa vào tháng Hai năm 1972, một chuyến đi đã kết thúc với việc ký kết một văn kiện ngoại giao quan trọng nhất của thế kỷ XX, với cái gọi là "Thông cáo Thượng Hải."

Nếu hội nghị thượng đỉnh Sunnylands là để mang lại những lợi ích lâu dài của kiểu như hội nghị thượng đỉnh Mao-Nixon đã làm, thì nó phải được xem như một cột mốc ờ tầm triết lý và chiến lược tương tự. Tất nhiên, quan hệ Trung-Mỹ phải tinh tế hơn nhiều so với năm 1972, cho những ràng buộc kinh tế sâu sắc giữa hai nước. Vì vậy, chúng ta nên hy vọng cho một "Thông cáo California" có thể thiết lập một con đường cho quan hệ song phương trong những thập kỷ tới.

Mục tiêu cho Obama và Tập là làm sao hai nước phải ngăn chặn tình hình "chung sống trong cạnh tranh" ngày càng tiến triển thành cuộc đối đầu chiến lược - một cái gì đó mà không có sự thành lập quyền lực và gia tăng quyền lực đã từng kiểm soát được trong quá khứ. Mặc dù có sự lặp lại của cả hai nhà lãnh đạo về tầm quan trọng của một mối quan hệ ổn định, tích cực, và hợp tác, cạnh tranh chiến lược sẽ tiếp tục tăng trưởng khi nền kinh tế của Trung Hoa đuổi kịp và vượt Mỹ của (ít nhất là về GDP) trong những năm tới.

Vì vậy, mục tiêu trong Hội nghị thượng đỉnh ở Sunnylands phải làm sao đặt nền tảng cho ra các quy tắc ngăn chặn sự kình địch Trung-Mỹ bị cáo buộc như là đang sôi lên sùng sục. Tuy nhiên nghi ngờ ý định chiến lược lâu dài của mỗi bên là có thể, một mối quan hệ không đối đầu là sự lựa chọn khả thi duy nhất cho cả hai nước. Thật không may, sự cuốn theo kiểu quan hệ song phương trong hiện tại là rất nguy hiểm cho vấn đề này.

Những gì có thể ràng buộc Trung Hoa và Mỹ với nhau, phải chăng mối đe dọa của Liên Xô chia rẻ không còn tồn tại, và rằng một phần đáng kể của giới tinh hoa của cả hai nước xem phía bên kia là nguyên nhân chính của sự nguy hiểm?

Các nhà hoạch định chiến lược ở Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn phải nhìn xa hơn các mối đe dọa truyền thống và tập trung vào các vấn đề như ổn định kinh tế, tài nguyên và an ninh năng lượng, tiến bộ công nghệ, biến đổi khí hậu, thách thức nhân khẩu học, và an ninh mạng. Đây là những vấn đề không thể được giải quyết bởi chỉ một quốc gia đơn lẻ hoặc chỉ đơn giản đặt ưu tiên thứ tự các đồng minh của mình vào để đối đầu. Các đồng minh của song phương đặt ra một mối đe dọa lớn hơn Liên Xô trước đây, chắc chắn là phức tạp hơn, và chỉ có thể đáp ứng được thông qua hợp tác.

Ví dụ, Trung Hoa đã là nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới và là quốc gia thải ra lớn nhất của khí carbon dioxide. Cả hai nước Mỹ - Trung đã phải hứng chịu những sự kiện thời tiết khắc nghiệt trong những năm gần đây. Ngay cả khi năng lượng từ đá phiến sét(***) đã sớm giúp cho Hoa Kỳ có một nền an ninh năng lượng độc lập, nhưng nó không có khả năng làm ảnh hưởng đến toàn cầu, khi các quốc gia khác vẫn tiêu thụ, gây ô nhiễm, và ngày càng tồi tệ hơn.

Tương tự như vậy, an ninh mạng, một chủ đề mới trong quan hệ song phương, có khả năng là một vấn đề nhạy cảm - nhưng nó là vấn đề mà một trong hai bên quan tâm mạnh mẽ trong việc giải quyết hợp tác. Điều này cũng đúng trong nỗ lực ngăn chặn tình hình căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên đang xấu hơn, để đảm bảo sự ổn định ở Afghanistan và Pakistan, để giải quyết bài toán hóc búa Trung Đông, và để tạo ra một cấu trúc mở và toàn diện cho thương mại và đầu tư trong khu vực và toàn cầu. Xây dựng một loại mới của mối quan hệ quân sự với quân sự cũng phải là một trong những kết quả quan trọng nhất của hội nghị thượng đỉnh Sunnylands.

Nếu cuộc họp giữa Mao Trạch Đông và Nixon 41 năm trước đây đã bắt đầu sự tan đông của một mối quan hệ đang đóng băng thì, cuộc gặp gỡ giữa Tập và Obama có khả năng định hình lại những gì đã trở thành mối quan hệ song phương quan trọng nhất thế giới - và ngăn chặn nhu cầu cho bất kỳ sự tan rã nào trong tương lai.

Bốn thập kỷ, những gì đưa Trung Hoa và Mỹ cùng nhau gặt được một cái mà ở đó cả hai đều phản đối. Điều cần thiết là những gì mang hai quốc gia lại với nhau ngày hôm nay phải là được một cái gì đó mà cả hai đều mong muốn.

Cả hai quốc gia Mỹ Trung đều biết rằng đây là thời điểm để hợp tác và định hình tương lai. Chỉ bằng cách thể hiện chiến lược kiềm chế và ý chí chính trị để giải quyết các vấn đề và làm những gì có thể để hai quốc gia cùng nhau đối mặt với những thách thức chung và thành công.

Ghi chú:
(*)Sunnylands, vùng đất trước đây có tên là Annenberg, nằm ở thành phố du lịch Rancho Mirage với những khách sạn cao cấp và resort, thuộc bang California, Sunnylands rộng khoảng 200 mẫu Anh (0,81 km2).

(**)Sông Amur: là con sông Hắc Long Giang, nó là biên giới của Trung Hoa và Siberia của nước Nga thuộc Liên Xô cũ. Tỉnh Hắc Long Giang giáp với tỉnh Cát Lâm ở phía nam và giáp với khu tự trị Nội Mông ở phía tây; tỉnh giáp với Nga ở phía bắc và phía đông qua con sông này.

(***)Đá phiến sét: đọc thêm ghi chú bài: Độc lập năng lượng trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau của Joseph Nye
 

Xét trong bối cảnh hai nước có các tính toán lợi ích như trên thì kết quả của cuộc Đối thoại Trung-Mỹ vừa qua là hoàn toàn hiểu được và không đến nỗi quá “bất ngờ”.

Trái với dự đoán của báo giới và khá nhiều chuyên gia về kết quả “bế tắc” hoặc “thất bại” của Đối thoại chiến lược và kinh tế lần thứ 7 diễn ra trong hai ngày 23-24/6/2015 tại Washington DC, cả 4 trưởng đoàn Mỹ và Trung Quốc đều cười tươi, tay bắt chặt khi Đối thoại kết thúc và tuyên bố “kết quả vượt quá mong đợi” với 127 kết quả. Phải chăng quan hệ Trung-Mỹ đã thực sự “đảo chiều” chỉ sau “một đêm”?

Cuộc Đối thoại được mong chờ nhất

Kể từ khi được Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nâng cấp thành Đối thoại Chiến lược và Kinh tế năm 2009, các Đối thoại chiến lược Trung-Mỹ luôn là mối quan tâm hàng đầu của dư luận lẫn các nhà phân tích thời cuộc bởi quy mô lớn nhất và tính chất cũng quan trọng nhất trong hơn 90 kênh đối thoại thường niên.

Đối thoại năm nay chủ nhà Mỹ có 8 thành viên nội các, trong đó có Ngoại trưởng Kerry, Bộ trưởng tài chính Jack Lew, và đông đảo quan chức cấp cao. Còn phía Trung Quốc có 400 quan khách do Phó Thủ tướng Uông Dương và Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì dẫn đầu. Đây cũng là kênh đối thoại song phương quy mô nhất thế giới. Điều này phản ảnh đúng thực trạng cũng như tầm vóc quan hệ giữa hai quốc gia lớn.

Cuộc Đối thoại năm nay nhận được quan tâm đặc biệt hơn, bởi:

Một, quan hệ Trung-Mỹ đang trải qua thời kỳ sóng gió nhất trong hơn ¼ thế kỷ qua kể từ sau sự kiện Thiên An Môn 6/1989 liên quan đến việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo trên vùng biển chiếm đóng trái phép ở Biển Đông, các “thách đố” 2 nước về vùng cấm bay trên đảo nhân tạo và “vùng cấm” 12 hải lý trên biển , và đặc biệt là việc chính quyền Mỹ “nghi” tin tặc Trung Quốc đột nhập, lấy cắp dữ liệu của khoảng 4 triệu người do Cơ quan quản lý nhân lực (OPM) đang cất giữ. Dư luận lo ngại, với hàng tá các bất đồng và khác biệt như vậy liệu hai nước có còn duy trì được quan hệ hợp tác nữa hay không?
Đối thoại Mỹ - Trung, An ninh biển, Quan hệ Trung - Mỹ, TS. Hoàng Anh Tuấn

Đối thoại Mỹ - Trung, An ninh biển, Quan hệ Trung - Mỹ, TS. Hoàng Anh Tuấn
Phó tổng thống Mỹ Joe Biden bắt tay Phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Diên Đông tại hội đàm. Ảnh: Reuters
Hai, khả năng đạt được thỏa thuận về biến đổi khí hậu và Hiệp định đầu tư song phương (BIT). Chẳng hạn, liên quan đến biến đổi khí hậu, các động thái của Trung Quốc - nước đang phát triển lớn nhất, và Mỹ-nước phát triển lớn nhất thế giới, đồng thời là cả hai nước có lượng khí thải Carbon lớn nhất thế giới, sẽ có tác động sâu sắc đến lập trường của hàng loạt nước tại Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu sẽ diễn ra tại Paris vào tháng 12/2015.

Ba, việc chuẩn bị của hai nước cho chuyến thăm Mỹ sẽ diễn ra vào tháng 9/2015 của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Đây là chuyến đi hết sức quan trọng đối với Trung Quốc và quan hệ Mỹ-Trung. Nhiều khả năng ông Tập sẽ trở thành nhà lãnh đạo của Trung Quốc lần đầu tiên được phát biểu trước cả hai viện của Quốc hội Mỹ. Do đó, Trung Quốc rất muốn mọi chuyện liên quan đến chuyến đi suôn sẻ.

Bước đi đầu tiên của Trung Quốc là tạm dừng bồi đắp đảo và kết quả của đòn tấn công ngợi giao là “không ngờ”!

Kết quả “không ngờ”

Nội dung của Đối thoại chiến lược khá rộng, bao trùm hàng loạt các chủ đề, từ an ninh hàng hải, an ninh mạng đến biến đổi khí hậu, phòng chống dịch bệnh, thương mại, rồi hợp tác kinh tế. Quan trọng nhất, hai bên đã đạt được 127 kết quả cụ thể, giải tỏa các căng thẳng trong quan hệ hai nước để chuẩn bị cho chuyển đi Washington của ông Tập. Các thỏa thuận chính đạt được gồm:

Thứ nhất, hai bên cam kết hợp tác để đem lại kết quả thành công của Hội nghị chống biến đổi khí hậu toàn cầu họp tại Paris vào tháng 12/2015. Riêng trong việc chống biến đổi khí hậu và môi trường, hai nước đã đạt được gần 40 kết quả. Các kết quả này là sự triển khai Tuyên bố chung Trung-Mỹ về thay đổi khí hậu trái đất được ông Obama và Tập ký năm 2014.

Thứ hai, bảo vệ và bảo tồn các đại dương, trong đó có việc chống đánh bắt cá bất hợp pháp, mở rộng các lực lượng cưỡng chế trên biển, thiết lập khu bảo vệ biển ở Nam cực.

Ba là, củng cố an ninh y tế toàn cầu, trong đó có việc Trung Quốc giúp các nước Tây Phi xây dựng lại hệ thống y tế, đối phó chống lại các bệnh dịch truyền nhiễm.

Thứ tư, các hợp tác khác bao gồm: hai nước Trung-Mỹ ủng hộ một quốc gia Afghanistan hòa bình, ổn định và thống nhất; ủng hộ việc phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và việc sớm đạt được thỏa thuận về Kế hoạch hành động chung toàn diện trên cơ sở thỏa thuận khung được nhóm P5+1, Iran và EU; hợp tác sâu rộng hơn trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố.

Hai nội dung được trông chờ nhiều nhất là căng thẳng trên Biển Đông và an ninh mạng–vốn được Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden nêu khá thẳng thắn trong phiên khai mạc–lại hoàn toàn “biến mất” trong Tuyên bố chung sau đó. Chẳng hạn, thay vì nhắc đến vấn đề Biển Đông, thì vấn đề hợp tác dân sự ở các đại dương lại được đưa vào thông cáo chung.

Phải chăng gió đã “đảo chiều”?

Những ai mong chờ các trận “khẩu chiến” kịch liệt giữa Mỹ và Trung Quốc cũng như động thái cứng rắn từ phía Mỹ hẳn sẽ thất vọng. Các sắc thái đánh giá cũng khá khác nhau. Trước hết là việc cho rằng Trung Quốc đã “cao tay” khi tuyên bố dừng đắp đảo để đổi lấy “yên ổn” tạm thời, rồi sau đó “đâu lại đóng đấy” sau cuộc gặp cấp cao Mỹ-Trung được tổ chức vào tháng 9/2015. Có ý kiến khác lại cho rằng đã đến lúc Trung-Mỹ “bắt tay thỏa hiệp” và Biển Đông không phải là vấn đề lớn mà thực sự hai nước còn có các quan hệ lớn hơn. Vậy nên hiểu thế nào cho đúng?

Trước hết, diễn đàn Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Trung Mỹ không phải là nơi để giải quyết các khác biệt, các tranh chấp. Đây là nơi mà hai bên chủ yếu bày tỏ quan điểm của mình với mục đích tăng cường lòng tin, thu hẹp các bất đồng. Do đó, cả Trung Quốc và Mỹ đều cố gắng gác lại các tranh chấp, các khác biệt, nhấn mạnh đến các điểm đồng làm nền tảng thúc đẩy hợp tác. Họ biết rằng các bất đồng, khác biệt hiện nay là quá lớn và càng tìm cách giải quyết thì lại càng đưa đến đến các tranh cãi không lối thoát. Thực chất đây là sự “thừa nhận các bất đồng, khác biệt” (agree to disagree).

Bên cạnh đó, xét trong bối cảnh hiện nay, cả Mỹ và Trung Quốc đều đang phải dồn sức đối phó cho hàng loạt các vấn đề đối nội, đối ngoại lớn và chưa sẵn sàng cho một cuộc đối đầu toàn diện. Đặc biệt, đối với Trung Quốc, nếu đối đầu càng leo thang thì Trung Quốc sẽ càng ở thế bất lợi khi không có chỗ dựa là mạng lưới các đồng minh và hệ thống căn cứ quân sự hải ngoại liên hoàn như Mỹ. Chưa kể sức mạnh và kinh nghiệm tác chiến trên biển của Trung Quốc còn thua xa Mỹ hàng thập kỷ.

Cuối cùng, về phía mình, Trung Quốc thấy giai đoạn đầu “lấn hải” có thể tạm ổn, cần tập trung củng cố các “thành quả” vừa giành được để dồn sức cho các “trận chiến” dài hơi hơn phía sau. Hơn nữa, việc tiếp tục xây đảo nhân tạo có thể phá hỏng chuyến đi Mỹ vào tháng 9/2015 của Chủ tịch Tập Cận Bình, đưa Trung Quốc vào “tầm ngắm” của tâm điểm chính trị nội bộ Mỹ trong mùa bầu cử Tổng thống năm 2016.

Còn bản thân Mỹ cũng cảm thấy “hài lòng” khi ít nhất các yêu cầu đòi phía Trung Quốc dừng hoạt động bồi đắp, cải tạo đã có kết quả và cần tiếp tục dùng các biện pháp, sức ép khác để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế.

Sau cuộc Đối thoại này, hai nước Trung-Mỹ đã nhất trí sẽ có cuộc họp về an ninh biển vào tuần tới.

Xét trong bối cảnh hai nước có các tính toán lợi ích như trên thì kết quả của cuộc Đối thoại Trung-Mỹ vừa qua là hoàn toàn hiểu được và không đến nỗi quá “bất ngờ”.

Hoàng Anh Tuấn
(Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược, Bộ Ngoại giao)