Các bài phân tích, dự báo xu hướng, tư vấn cổ phiếu, khóa học, suy nghĩ và tư duy làm giàu, thơ của Dương Văn Kháng
Trang
Nhãn
- NGHĨ GIÀU (107)
- NHẬN ĐỊNH (106)
- TƯ VẤN MUA-BÁN (89)
- KHỦNG HOẢNG (74)
- THƠ (49)
- DẠNG CP (15)
- NHẬN XÉT DVK (9)
Thứ Hai, 16 tháng 3, 2009
Tự tin vào tính thanh khoản của STB
STB: "Chọn giải pháp tránh, trú bão"
http://cafef.vn/20090316023830904CA34/stb-chon-giai-phap-tranh-tru-bao.chn
Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2009
Phân tích kỹ thuật của Saga (rất hay)
Giá vàng sắp tới sẽ ra sao?
http://www.saga.vn/Taichinh/Kithuattaichinh/Phantichkithuat/15136.saga
Thứ Năm, 12 tháng 3, 2009
Tin ngày 12-3-2009
http://cafef.vn/20090216055636477CA36/eps-cua-co-phieu-dtc-la-bao-nhieu.chn
Giá thép “hạ nhiệt”, vì sao?
http://www.stox.vn/stox/view_news_detail.asp?id=22975&menuID=1&categoryID=130
Ngân hàng - viễn cảnh lợi nhuận không sáng sủa
http://www.stox.vn/stox/view_news_detail.asp?id=22980&menuID=1&categoryID=127
Thứ Tư, 11 tháng 3, 2009
Ai hưởng lợi khi VND giảm giá?
Cũng như lãi suất, diễn biến tỷ giá năm 2008 đầy biến động khiến các doanh nghiệp gặp khó. Tuy nhiên, nếu tỷ giá năm 2009 được điều chỉnh theo hướng giảm giá VND, nhiều doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi.
Được hưởng lợi nhất trong việc giảm giá VND có lẽ sẽ là ngành dầu khí.
Theo nhận định của Công ty Chứng khoán EuroCapital (ECC), chỉ trong năm 2008, biên độ tỷ giá đã được điều chỉnh 5 lần - một mật độ chưa từng có trong lịch sử. Những biến động của tỷ giá đã gây ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp.
Năm 2008, lỗ nhiều do tỷ giá
Các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài khi phải chịu ảnh hưởng kép đặc biệt trong thời điểm giữa năm 2008: giá nguyên vật liệu tăng và VND trượt giá.
Công ty Nhựa Bình Minh trong giai đoạn tháng 5- 6/2008 thiệt hại mỗi tháng 5-6 tỷ đồng do biến động tỷ giá; Tập đoàn Dệt may thiệt hại khoảng 50 tỷ đồng cũng trong giai đoạn này do chênh lệch giữa giá USD thu bán cho ngân hàng thương mại và giá mua USD phục vụ mua nguyên liệu.
Đối với ngành xăng dầu, tại thời điểm cuối tháng 3/2008, tỷ giá thị trường thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng nên Petrolimex phải mua USD với giá cao hơn giá thị trường khiến mỗi lít xăng dầu tăng 300-400 đồng do tỷ giá.
Từ tháng 4/2008, tỷ giá đảo chiều mạnh, tỷ giá liên ngân hàng giao dịch ở trần biên độ, chênh lệch tỷ giá từ thời điểm ký hợp đồng đến thời điểm thanh toán từ 40 đồng/lít lên mức 500 đồng/lít ở thời điểm tháng 7 - 8/2008.
Ngành điện, PPC là một trong những trường hợp điển hình nhất trong số các công ty bị thiệt hại do biến động tỷ giá.
Với khoản vay khoảng 37 tỷ Yên Nhật, PPC phải chịu thiệt kép về tỷ giá khi VND trượt giá so với USD, trong khi đồng USD cũng giảm giá so với Yên Nhật. Nếu chỉ tính từ tháng 9 - 11/2008, Yên Nhật đã tăng giá 20%-25% so với USD và 30%-40% so với Euro).
Tác động của tỷ giá tới các ngành trong năm 2009?
Theo ông Ngô Văn Minh, Phó phòng Nghiên cứu và Đầu tư của ECC, xét về ảnh hưởng trực tiếp, nếu giảm giá VND trong năm 2009 sẽ có ảnh hưởng tích cực tới các doanh nghiệp xuất khẩu, nhưng sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới các doanh nghiệp nhập khẩu.
Cụ thể, với ngành dược, do phải nhập khẩu tới 90% nguyên liệu từ nước ngoài, tỷ giá USD/VND nếu tăng sẽ ảnh hưởng lớn tới chi phí đầu vào của ngành dược.
Trong khi đó, việc tăng giá thuốc sẽ tương đối khó khăn khi ngành chịu sự quản lý chặt chẽ của Cục Quản lý dược. Những công ty có nguồn dược liệu trong nước sẽ chịu ảnh hưởng thấp hơn từ tăng tỷ giá.
Đối với ngành sữa, hiện tại, các công ty sữa cũng đang nhập khẩu trên 80% nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài và tỷ giá chắc chắn cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngành.
Các công ty có nguồn nguyên liệu trong nước tốt sẽ giảm bớt được tác động từ tỷ giá tăng, nhất là khi lạm phát nhiều khả năng sẽ chỉ duy trì ở một con số trong năm 2009.
Ngành thép đang trong tình trạng dư thừa ngắn hạn trên toàn thế giới khiến nhiều nước phải tìm cách xuất khẩu thép dư thừa trong thời gian qua. Tình hình tương tự cũng đang diễn ra ở Việt Nam.
Trên thực tế, trong ngắn hạn, tỷ giá tăng là một lợi thế cho các doanh nghiệp trong nước trong việc giải quyết hàng tồn kho do giá thép nhập khẩu sẽ kém cạnh tranh hơn.
Tuy nhiên, về dài hạn, do ngành thép vẫn chủ yếu nhập phôi thép từ nước ngoài, tỷ giá tăng sẽ có ảnh hưởng tới chi phí đầu vào của ngành thép và các doanh nghiệp trên sàn (HPG, HSG, KKC, VGS...).
Năm 2009 được xác định là một năm tương đối khó khăn với ngành thủy sản khi các thị trường chính như Mỹ, Nhật, châu Âu đều có khả năng thu hẹp do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế và việc các đồng tiền của các nước cạnh tranh chính trong xuất khẩu thủy sản với Việt Nam đều giảm giá mạnh trong thời gian qua.
Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ có ảnh hưởng rất tích cực tới các doanh nghiệp thủy sản trong việc tiếp tục duy trì sức cạnh tranh trong năm 2009 như thủy sản Nam Việt (ANV) và thủy sản Vĩnh Hoàn (VHC). Hiện ngành thủy sản cũng đang có đề nghị tiếp tục nới rộng biên độ tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu.
Cũng như ngành thủy sản, các doanh nghiệp dệt may và giày dép sẽ được hưởng lợi từ việc giảm giá VND trong năm 2009. Trong những tháng cuối năm 2008, kim ngạch ngành dệt may giảm mạnh một phần do VND tăng tương đối so với các đồng tiền của các nước xuất khẩu khác như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia...
Nhưng, được hưởng lợi lớn nhất trong việc giảm giá VND có lẽ sẽ là ngành dầu khí.
Với tỷ giá liên ngân hàng hiện nay, ngành dầu khí sẽ thu thêm được khoảng 2.500 tỷ đồng từ tỷ giá trong năm tới, còn nếu tỷ giá được điều chỉnh 5%, tương đương với việc ngành dầu khí sẽ thu được thêm khoảng 4.500 tỷ đồng.
Ông Minh cho rằng các doanh nghiệp vay bằng ngoại tệ sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ việc giảm giá VND với mức độ khác nhau. Chẳng hạn như PPC với khoản vay khoảng 35-37 tỷ Yên Nhật (gần 400 triệu USD). Bất kỳ sự tăng giá nào của USD so với VND (và của JPY so với USD) và ngược lại sẽ có ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận năm 2009 của PPC.
Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá khá mạnh tay - xấp xỉ 3% - vào những ngày cuối cùng năm 2008 cho thấy Ngân hàng Nhà nước không còn giữ chủ trương duy trì tỷ giá công bố liên ngân hàng ổn định (xoay quanh mức 16.500 trong các năm trước) mà sẽ chủ động điều chỉnh tỷ giá này tùy theo diễn biến thị trường.
Do vậy, nhóm phân tích của ECC nhận định, có khả năng VND tiếp tục sẽ mất giá khoảng 3%-5%, với tỷ giá giao dịch USD/VND sẽ ở ngưỡng 18.000-18.500 đồng vào cuối năm 2009.
“Trong trường hợp xấu nhất tỷ giá giao dịch USD/VND sẽ ở mức 19.000-19.500 đồng, tương đương VND mất giá 8 - 10%”, ông Minh nói.
vnecono.vn | Dân trí
Thứ Ba, 10 tháng 3, 2009
Điểm tin ngày 11-3-2009
http://cafef.vn/2009031107512243CA34/nam-ly-do-khong-nen-pha-gia-dong-noi-te.chn
Phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ có kích lãi suất USD?
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vừa ký ban hành Quyết định số 211/QĐ-TTg ngày 13/2/2009, về việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ trên thị trường vốn trong nước để đầu tư cho các dự án trọng điểm và bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước. Đây là một chính sách mới dự báo sẽ có những tác động nhất định đến một số vấn đề vĩ mô. Với người nắm giữ ngoại tệ, một trong những tác động được quan tâm là lãi suất huy động USD có tăng trở lại hay không. Lãi suất huy động USD giảm mạnh Liên tục từ đầu tháng 2 trở lại đây, lãi suất huy động USD của các ngân hàng thương mại lần lượt được điều chỉnh giảm. So với tuần đầu tháng 2/2009, mức giảm ghi nhận từ 0,2% - 0,5%/năm ở hầu hết các kỳ hạn. Theo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động USD của các ngân hàng thương mại nhà nước hiện phổ biến từ 2% - 3,09%/năm ở các kỳ hạn từ 3 - 12 tháng; của khối thương mại cổ phần phổ biến từ 2,21% - 2,76% tương ứng ở các kỳ hạn trên. Trên thực tế, lãi suất ở kỳ hạn 3 tháng tại một số ngân hàng cổ phần, là đầu mối thanh toán xuất nhập khẩu lớn, chỉ còn từ 2% - 2,1%/năm. Trong khi đó, tuần đầu tháng 2/2009, ở các kỳ hạn trên, lãi suất huy động USD phổ biến từ 2,4% - 3,6%/năm ở khối quốc doanh, từ 2,45% - 3%/năm ở khối cổ phần. Đây là diễn biến ngược với xu hướng tăng nhẹ của lãi suất huy động VND trong khoảng một tháng trở lại đây. Về diễn biến trên, một số nhận định cho rằng nguyên nhân chính xuất phát từ nhu cầu vay ngoại tệ đang có xu hướng giảm mạnh, nguồn vốn ngoại tệ của hệ thống ngân hàng đang dồi dào. Mặt khác, chính sách hỗ trợ lãi suất dành riêng cho các khoản vay bằng VND cũng kích thích doanh nghiệp tập trung vay vốn bằng đồng tiền này; trong khi nhập khẩu đang có xu hướng sụt giảm do khó khăn của nền kinh tế… Bên cạnh đó, việc Việt Những nhận định trên khớp với những báo cáo định kỳ gần đây của Ngân hàng Nhà nước với khẳng định “nguồn cung ngoại tệ trên thị trường đang được cải thiện”. Và một dẫn chứng cụ thể khác, trong tháng 2, hoạt động cho vay bằng ngoại tệ của hệ thống ngân hàng đã sụt giảm mạnh, giảm 2,69% so với cuối năm 2008. Ở một nguyên nhân khác, theo nhận định của một chuyên gia tài chính, lãi suất huy động USD giảm là sự phản ảnh theo diễn biến trên thị trường thế giới, khi lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm mạnh trong thời gian qua. Trái phiếu bằng ngoại tệ: “Cú hích” mới cho lãi suất? Theo định hướng Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo ở quyết định trên, kế hoạch phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ trên thị trường nội địa đang được Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước phối hợp xây dựng. Điểm đáng chú ý là đối tượng phát hành có cả các cá nhân, thay vì chỉ các tổ chức tham gia như với trái phiếu Chính phủ bằng VND hiện nay. Liên quan đến kế hoạch trên, hiện có một số nhận định trái chiều về khả năng tác động đối với lãi suất USD trên thị trường. Một số chuyên gia cho rằng việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ khó có thể “kích” lãi suất USD tăng lên, do độ tín nhiệm cao hơn trái phiếu do chính quyền địa phương hay doanh nghiệp phát hành. Theo đó, lãi suất trái phiếu Chính phủ có thể thấp hơn lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại và không làm thay đổi mặt bằng lãi suất huy động USD. Trong khi đó, ý kiến ngược chiều lại cho rằng khi Chính phủ phát hành trái phiếu bằng VND có lợi suất khoảng 7%, bằng lãi suất cơ bản và khó thành công do lợi suất thấp, việc “chuyển hướng” sang huy động bằng USD là một hướng mới. Tuy nhiên, nếu lợi suất thấp hơn 3% như mặt bằng lãi suất huy động USD ở kỳ hạn 12 tháng phổ biến hiện nay, liệu có hấp dẫn và thành công? Nếu cao hơn 3%, điều này sẽ tác động đến lãi suất huy động trên thị trường. Ngoài ra, các khả năng tác động còn tùy thuộc vào kế hoạch và cách thức triển khai cụ thể của Bộ Tài chính trên thực tế. Trái phiếu bằng ngoại tệ: Lợi và lo Liên quan đến việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ, theo ý kiến của TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc phụ trách nghiên cứu, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, đây là cách làm có thể giúp thu hút nguồn ngoại tệ bù đắp dự trữ ngoại hối, hỗ trợ ổn định tỷ giá. Mặt khác, hướng đi này cũng tạo thêm một công cụ tài chính mới cho các tổ chức, cá nhân nắm giữ ngoại tệ tham gia mà không phải quy đổi như trước đây, tạo thêm tính hấp dẫn cho thị trường trái phiếu, đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, khuyến nghị mà chuyên gia này đưa ra là Chính phủ cần cân nhắc một số hệ lụy liên quan. Thứ nhất, đó là sự thận trọng cần thiết với vấn đề đô la hóa. Việc phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ có thể làm gia tăng mức độ đô la hóa (hiện đã gần 30%), và theo đó mức độ chủ động về chính sách tiền tệ sẽ giảm đi. Thứ hai, theo TS. Vũ Thành Tự Anh, kế hoạch phát hành nói trên cũng cần tính đến gánh nặng trả nợ của Chính phủ trong tương lai, đặc biệt là khi đặt trong những rủi ro của tỷ giá. Thứ ba, như đề cập ở trên, để hấp dẫn và thành công, lợi suất trái phiếu là yếu tố cần được tính toán thận trọng. Nếu lợi suất cao, cộng với khả năng lạm phát gia tăng trở lại, có thể dẫn đến xu hướng chuyển dịch mạnh từ VND sang nắm giữ USD trong dân cư. |
Theo VNE |
Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2009
Chính sách tỷ giá 2009 sẽ như thế nào?
Tỷ giá và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Theo lý thuyết, tỷ giá tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua các nhân tố của sản xuất (vốn và lao động), đầu tư và tình xuất nhập khẩu của quốc gia đó. Tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm thay đổi giá hàng hóa và dịch vụ tính bằng đồng nội tệ và ngoại tệ. Vì vậy, tỷ giá có tác động nhất định đến tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào cơ cấu hàng xuất - nhập khẩu và sự lựa chọn chính sách tỷ giá của mỗi quốc gia. Việt Nam lựa chọn chính sách tỷ giá ưu tiên xuất khẩu.
Trong giai đoạn 2000-2007, kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc, GDP liên tục tăng ở mực cao trung bình khoản 7,5-8 % mỗi năm, là một hiện tượng của Châu Á, sau Trung Quốc. Nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế do đâu mà cao vậy và có bền vững hay không là một câu hỏi lớn cho mọi người.
Năm 2005-2006, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư nhiều vào Việt Nam vì môi trường pháp lý, điều kiện kinh tế thuận lợi. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hàng năm trung bình được giải ngân khoản 2-2,4 tỷ USD, ngoài ra còn nhận được sự viện trợ của nước ngoài, kiều hối hàng năm khoản 2-4 tỷ USD, do đó làm cho các cân thanh toán vốn (capital account) thặng dư mỗi năm 2-2,5 tỷ USD.
Theo Ông Nguyễn Văn A, tăng trưởng của Việt Nam cao qua các giai đoạn 2000-2007 không phải từ việc tăng năng lực sản xuất, tiết kiệm mà là do yếu tố tăng vốn đầu tư vào Việt Nam. Như thế tăng trưởng này sẽ không bền trong tương lai.
Có thể nói rằng, vốn nước ngoài vào Việt Nam tăng cao qua các năm từ đó cũng có những tác động đến tỷ giá USD/VND. Cũng như các nước mới phát triển (emerging countries) khi gia nhập vào sân chơi thế giới Việt Nam cũng đối diện với hiện tượng “Bộ Ba Bất Khả thi” – (impossible trinity). Đó là khi dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam nhiều, NHNN tiến hành mua ngoại tệ để ổn định tỷ giá, tăng tín dụng trong nước, gây ra áp lực lạm phát, vì vậy mà những tháng đầu năm lạm phát bùng nổ.
Theo Pháp luật ngoại hối, Việt Nam đã tự do hóa giao dịch vãng lai, còn giao dịch vốn chưa được tự do hoàn toàn. Theo lý thuyết “bộ ba bất khả thi”, với một thị trường vốn mở, không thể đồng thời thực hiện được 2 mục tiêu: ổn định tỷ giá và ổn định lạm phát. Với tình hình Việt Nam trong thời gian qua, đã đạt được mục tiêu cố định tỷ giá theo USD, nên phải chấp nhận mức lạm phát cao.
Với tình hình kinh tế thế giới 2009 vẫn còn trong bóng tối, năm 2008 nhập siêu khoảng 17 tỷ USD, nên theo chúng tôi năm tới tăng trưởng kinh tế nên hướng đến tăng xuất khẩu để giảm thâm hụt thương mai, vì thế chính sách tỷ giá nên nới lỏng rộng hơn nữa, chúng tôi dự báo khoảng ± 10%.
Tỷ giá 2009 : chính sách nào?
Theo IMF, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2009 sẽ chậm lại từ 3,6% năm 2008 xuống 2,2%. Nhiều quốc gia phát triển sẽ tăng trưởng ở mức âm. Cuộc khủng hoảng tài chính dẫn tới tính thanh khoản kém trên thị trừơng tài chính, hạn chế cho vay để thực hiện “carry trade” thu lợi nhuận từ chênh lệch giá và lãi suất giữa 2 đồng tiền USD và JPY nên nhu cầu cao về USD, JPY để trả nợ các khoản vay đẩy USD, JPY lên giá. Nhu cầu tín phiếu kho bạc Mỹ tăng cao do nhu cầu thanh khoản tăng sẽ đẩy USD tăng giá. Dự báo USD, JPY sẽ tăng so với các dòng tiền khác cho tới hết quý II/2009.
Hàng giá rẻ Trung Quốc không xuất được sang Mỹ và Châu Âu sẽ có khuynh hướng vào Việt Nam sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước.
Hiện nay, nhiều nhà hoạch định chính sách đang xem xét chính sách tỷ giá nào phù hợp cho Việt Nam năm 2009. Có quan điểm cho rằng, dòng vốn nước ngoài vào nhiều nên để cho VND lên giá kiềm chế lạm phát, ý kiến khác cho rằng nên can thiệp bằng cách phá giá VND để giảm thâm hụt thương mại hiện nay đang ở mức đang lo. Chúng tôi xin phân tích 2 ý kiến này như sau:
Thứ nhất, tăng giá VND năm 2009 theo chúng tôi là không phù hợp. Năm 2005, Mỹ và EU áp đặt Trung Quốc tăng giá NDT lên 10-15% nhưng NHTW Trung Quốc chỉ tăng NDT có 2,1%. Vì theo Trung Quốc thì tăng giá NDT nhiều sẽ làm tăng giá các sản phẩm xuất khẩu, giảm tính cạnh tranh, giảm thặng dư thương mại. Nếu Việt Nam tăng VND thì cũng sẽ làm cho hàng xuất khẩu ra nước ngoài có xu hướng giảm vì giá cao, có lợi cho nhập khẩu.
Thứ hai, phá giá VND tức làm giảm giá trị VND xuống mức -10%, tác dụng làm cho hàng xuất khẩu Việt Nam có tính cạnh tranh cao hơn. Hàng hóa xuất khẩu Trung Quốc giá rẽ là lợi thế để xuất khẩu sang các nước khác, góp phần lớn vào thặng dư cán cân thương mại của họ trong các năm vừa qua. Hiện nay, chính phủ đang hướng tới xuất khẩu nhiều để thu ngoại tệ về, nhằm giảm thậm hụt thương mại năm 2008.
Việc điều hành chính sách tỷ giá tốt có vai trò quan trọng trong việc bình ổn thị trường tài chính, giảm những cú sốc đối với kinh tế đến mức thấp nhất. Các nhà hoạch định chính sách nên điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, quản lý ngoại hối linh hoạt để bình ổn tỷ giá, theo hướng xác định tỷ giá mục tiêu, từ đó dựa vào tỷ giá mục tiêu để điều hành tỷ giá hợp lý. Theo dõi diễn biến tỷ giá của các nước có mặt hàng xuất khẩn cạnh tranh với Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan… để điều hành tỷ giá hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Dương Văn Kháng – Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp