Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

Tư vấn riêng cho khách hàng Vip mua vào cổ phiếu 2 ngày 4-5.11.2013



Hôm nay Kháng bắt đầu tư vấn
[11/04/2013 01:46:29 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: mua vào
[11/04/2013 01:46:33 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: PVX, SCR, LCG
[11/04/2013 01:46:37 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: và 1 số mã bds
[11/04/2013 01:46:47 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: vì các DN này tái cấu trúc vốn
[11/04/2013 01:46:54 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: có lợi cho lợi nhuận năm nay
PVX ko có hủy niêm yết nhé
[11/04/2013 01:53:09 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: DN tái cấu trúc xong hết r
[11/04/2013 02:11:10 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: SCR 6,1
[11/04/2013 02:11:25 PM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: ITA 6,2

mua may ma BDS
[09:22:12 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: dang tai cau truc
[09:25:32 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: PVX sẽ là hàng mạnh nhất
[09:25:34 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: sóng này
[09:25:37 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: vì giá quá rẻ
[09:25:42 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: tái cấu trúc xong hết r
[09:25:45 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: năm 2013
[09:25:48 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: sẽ không lỗ
[09:25:50 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: mà lời
[09:25:55 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: do đó ko huy niem yết
[09:32:10 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: ma cp nao chua len
[09:32:11 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: se len
[09:32:18 AM] Dương Văn Kháng_Hedge Fund.: ma nao len roi thi ngừng nhịp nghỉ

Vn-Index có thể đạt 550 vào khoảng tháng 1.2014 với các giải pháp bước đầu để phục hồi nền kinh tế



Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang gặp những khó khăn: thâm hụt ngân sách, thị trường ngân hàng có vốn huy động tăng nhiều mà tín dụng chỉ tăng rất ít, các ngân hàng thương mại dùng tiền để mua trái phiếu, doanh nghiệp bán hàng không tăng vì cấu yếu, nợ ngân hàng nhiều, niềm tin người dân đang rất yếu. Biện pháp hữu ích lúc này là tạo ra mối liên kết của các vấn đề trên bằng cách thúc đẩy cho thị trường chứng khoán tăng trong một khoảng thời gian nhất định.
Chứng khoán tăng có tác động tích cực ở nhiều mặt:
Thứ nhất, tạo tâm lý tốt cho người dân để đạt được các thỏa thuận tốt về các vấn đề kinh tế - chính trị (đồng thuận thông qua các chỉ tiêu kinh tế năm 2014, xử lý các vấn đề khó khăn hiện tại, nhân dân tin vào giải pháp điều hành của Chính phủ)
Thứ hai, cổ phiếu tăng giá giúp Ngân hàng bán nợ xấu cho VAMC với giá tốt; doanh nghiệp tái cấu trúc tài chính để có tiền trả nợ, thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2014 (thoái vốn các công ty con, bán bớt tài sản)
Biện pháp tăng chi tiêu Chính Phủ để kích cầu:
Nền kinh tế Việt Nam cần có biện pháp thích kích tổng cầu tăng lên, có một kênh và tạo ra hiệu quả nhanh lúc này trong khi 2 kênh (bơm vốn qua tín dụng bế tắc và thị trường chứng khoán không thu được hiểu quả) là tăng chi tiêu Chính Phủ, tức là tăng chi tiêu công lên thì việc sử dụng sắt thép, xi măng và lao động sẽ tăng trở lại, kéo theo các ngành khác phục hồi trở lại.
Thực tế, Chính đang đang tăng chi tiêu công mạnh bằng cách khởi công hàng loạt công trình hạ tầng lớn có giá trị hàng nghìn tỷ đồng để kích cầu tiêu dùng.
http://cafef.vn/chinh-sach-quy-hoach/sap-khoi-cong-hang-loat-du-an-ha-tang-nghin-ty-201311041636426435ca44.chn
Cái lợi của doanh nghiệp:
Bán được hàng, giá trị hàng tồn kho giảm, lợi nhuận tăng trở lại trong năm 2013-2015
Doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất thì phải có tiền, do đó doanh nghiệp phải tự tái cơ cấu (bán tài sản, thoái vốn công ty con không cần thiết để tập trung hoạt động sản xuất chính) để báo cáo tài chính đẹp và xoay chuyển dòng vốn cho năm mới
Cái lợi của ngân hàng:
Ngân hàng không bơm vốn ra nhiều cho doanh nghiệp như xưa, hiện nguồn vốn ngân hàng bơm theo các dạng sau: cho doanh nghiệp tốt vay, mua trái phiếu Chính phủ để Chính Phủ chi tiêu thay người dân.
Ngân hàng tự cơ cấu nợ xấu, thỏa thuận với doanh nghiệp, VAMC để giảm tỷ lệ về mức an toàn.
Lợi ích của Nhà nước:
Khi tình hình tài chính ngân hàng lành mạnh, đạt chỉ tiêu an toàn, lúc đó doanh nghiệp cũng hồi phục và phát triển trở lại. Tình hình cho vay giữa Ngân hàng và doanh nghiệp sẽ trở lại bình thường như xưa.
Năm 2014-2015, doanh nghiệp làm ăn có lợi nhuận trở lại, người dân có thu nhập, sẽ đóng thuế trở lại, do đó làm cho thâm hụt ngân sách giảm đáng kế, có khả năng đưa bội chi ngân sách năm 2015 trở về mức thấp.
Nếu Chính phủ thực hiện các kế hoạch trên nhất quán với nhau thì GDP năm 2014 dự báo 5,8% và sau năm 2015 đạt lớn hơn 6% là điều có thật.
Để làm được các điều trên và đưa nền kinh tế hồi phục và phát triển tốt trở lại, Chính phủ phải:
Thứ nhất, giám sát kỹ các khoản chi tiêu Công để không thất thoát nhiều, nghiên cứu, rà soát các dự án đầu tư công thật kỹ trước khi giải ngân tiền
Thứ hai, cố gắng đưa tỷ lệ lạm phát thấp theo lạm phát mục tiêu. Năm 2014-2015 tỷ lệ lạm phá xoay quanh 7-8%/năm là ổn. Khi lạm phát tăng ít thì giá thành sản phẩm không tăng nhiều, doanh nghiệp sẽ đỡ tốn chi phí hơn.
Các tin tốt sẽ công bố vào tháng 12.2013:
Khoảng ngày 20-15.12 công bố các sổ liệu kinh tế vĩ mô năm (GDP, CPI, FDI, xuất nhập khẩu,...). Theo Kháng dự báo bằng mô hình riêng thì GDP năm 2013 đạt khoảng 5,25-5,3%
Cuối tháng 12 và đầu tháng 1.2014, Chính phủ đề ra các chỉ tiêu kinh tế cho năm 2014
Vào khoảng tháng 1.2014: Chính phủ đưa ra các Nghị Quyết, Nghị định để vực dậy nền kinh tế, kế hoạch phát triển đến năm 2015.
Chiến lược đầu tư:
Vì Chính phủ tăng chi tiêu công mạnh nên chú ý vào các doanh nghiệp tham gia các dự án cơ sở hạ tầng theo chỉ định, các doanh nghiệp bất động sản đang cơ cấu tài chính để phát triển mạnh năm 2014.
Các mã cổ phiếu nên chú ý:
PVX, SCR, ITA, LCG, ITC, VIS, HSG, HLA, VCG,....
Dương Văn Kháng


Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

M&A tại Việt Nam đối mặt nhiều thách thức

Giá tài sản cao, thiếu thông tin, chưa hoàn thiện pháp lý, quy định thay đổi thường xuyên, khác biệt về văn hóa quản lý... là những rào cản khiến thị trường M&A tại Việt Nam nửa đầu năm 2013 gặp không ít khó khăn.
Ngày 8/8, tại diễn đàn M&A Việt Nam 2013, vấn đề được các diễn giả mổ xẻ nhiều nhất là thách thức từ những thương vụ M&A trong năm qua. Nhiều chuyên gia cho rằng nửa đầu năm 2013, thị trường M&A hơi chững lại vì Việt Nam chưa đẩy mạnh cải cách, tháo gỡ những khó khăn.
Giám đốc Khối tư vấn M&A thuộc KPMG Vietnam, Carl Gordon nhận định, nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các thương vụ là do bên bán có sự kỳ vọng quá mức về giá bán hoặc hai bên có những quan điểm khác nhau về mục tiêu cần đạt được.

Ông Carl Gordon kể thêm, ngay cả khi ý chí bên mua và bên bán gặp nhau thì lại vướng vào bế tắc khác là pháp lý. Các quy định chi phối trực tiếp hoạt động M&A rất nhiều và rải rác trong vô số văn bản khác nhau. Chúng nằm trong các bộ luật và quy định khác nhau, chẳng hạn như Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán...
Có kinh nghiệm hơn 40 lần tham gia vào các thương vụ M&A tại Việt Nam, Giám đốc Đầu tư Recof Corporation, Sam Yoshida chia sẻ: "Thiếu thông tin của công ty mục tiêu, nếu có thì đa phần không chính xác là trở ngại đầu tiên. Kế đến các thương vụ còn vấp phải khác biệt về cách quản lý, quy trình ra quyết định cũng khiến các thương vụ đi vào bế tắc".
a-tb-M-A-tai-VN-con-nhieu-t-1375969590_5
Nhiều diễn giả cho rằng nguyên nhân chính khiến thị trường M&A chưa sôi động nửa đầu năm 2013 là do tài sản bị định giá quá cao và thủ tục còn nhiều thay đổi, pháp lý chưa hoàn chỉnh. Ảnh: Vũ Lê
Ông Sam Yoshida nhấn mạnh, nút thắt khiến các thương vụ bế tắc phần lớn do tài sản được định quá cao hoặc thiếu thuyết phục. Đa phần doanh nghiệp Việt Nam kỳ vọng bán ở mức giá mà doanh nghiệp Nhật không với tới được. Thêm vào đó, thủ tục phê duyệt, cấp giấy phép gặp nhiều vướng mắc do các quy định thay đổi thường xuyên. Sự khác biệt trong hoạt động quản lý, kinh doanh cũng như quy trình ra quyết định cũng là trở ngại không nhỏ.
Trong khi đó, Giám đốc Khối bất động sản của Vinacapital David Blackhall nhận xét, nền kinh tế vĩ mô chưa hoàn toàn ổn định là rào cản lớn nhất đối với nhà đầu tư nước ngoài. Chuyên gia này cho rằng, tâm lý chờ đợi có thể sẽ tiếp diễn cho đến khi khối ngoại nhận thấy các dấu hiệu hồi phục kinh tế như: tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu bắt đầu ổn định trở lại.
Giám đốc dự án - Ngân hàng đầu tư Công ty chứng khoán Bản Việt, Volker Becker trich dẫn số liệu từ CNBC cho thấy 60-90% các thương vụ M&A thường thất bại và phải mất 2 năm để đo lường các giao dịch có thành công thành công hay không. 
Ông Volker Becker còn cho biết thêm, 70% đối tượng được điều tra trong cuộc khảo sát về M&A cho rằng kỳ vọng của bên bán quá cao là trở ngại lớn nhất. Các vấn đề liên quan đến việc thẩm định cũng có thể khiến cho giao dịch thất bại. Chuyên gia này nhận thấy, thẩm định thương mại và pháp lý nguy cơ dẫn đến thất bại của thương vụ M&A nhiều hơn là định giá và tài trợ vốn.
Tại Diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông thừa nhận, cho đến nay Việt Nam chưa nghiên cứu một cách bài bản về khung pháp lý cho việc mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Ông Đông phân tích, M&A cũng là một hình thức đầu tư nhưng lại bị chi phối bởi rất nhiều quy định của nhiều ngành nghề khác nhau. Nhu cầu mua bán sáp nhập của doanh nghiệp rất lớn và diễn biến ngày càng nhanh nên rất cần một thể chế tạo môi trường công bằng để thúc đẩy thị trường này phát triển.
"Tôi đề nghị các doanh nghiệp tham gia diễn đàn tập hợp tất cả vướng mắc trong quá trình xúc tiến các thương vụ M&A, sau đó sắp đặt một cuộc làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để có cơ sở tháo gỡ những khó khăn này”, ông Đông nói.
Vũ Lê

Những tác động của nới lỏng định lượng ở Mỹ

TS. TRẦN THỊ VÂN ANH
(Tài chính) Nới lỏng định lượng thuộc về nhóm chính sách tiền tệ phi truyền thống được các ngân hàng trung ương sử dụng để bơm tiền nhằm kích thích nền kinh tế khi các chính sách tiền tệ truyền thống đã bị vô hiệu hóa. Bài viết phân tích tác động của các gói nới lỏng định lượng đối với nền kinh tế Mỹ và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế thế giới.
Những tác động của nới lỏng định lượng ở Mỹ
Việc triển khai các gói QE khổng lồ không thực sự đem lại nhiều lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế Mỹ. Nguồn: internet
Nới lỏng định lượng ở Mỹ
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu kéo dài từ năm 2008 đến nay, đã đẩy nền kinh tế Mỹ lâm vào tình trạng trì trệ kéo dài, khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) phải liên tiếp hạ lãi suất xuống mức thấp kỷ lục 0 - 0,25% và liên tục tung ra các gói QE khổng lồ để"giải cứu" nền kinh tế. Tháng 11/2008, Mỹ đã tung ra gói QE1 khi cuộc khủng hoảng tài chính đang trong giai đoạn căng thẳng nhất. FED đã hạ lãi suất đồng USD về 0 - 0,25% và chi ra khoảng 1.700 tỷ USD để mua các chứng khoán nợ có tài sản thế chấp đảm bảo (MBS) và trái phiếu kho bạc để thúc đẩy nền kinh tế. 

Dưới tác động của QE1, nền kinh tế Mỹ đã phục hồi trong một giai đoạn ngắn nhưng sau đó lại có dấu hiệu suy giảm. Do đó, từngày 3/11/2010 đến hết tháng 6/2011, FED quyết định bơm thêm 600 tỷ USD cho chương trình QE2 để mua trái phiếu chính phủ kỳ hạn từ 2 - 10 năm.
BẢNG 1: QE: NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT
Định nghĩa
Nới lỏng định lượng thuộc về nhóm chính sách tiền tệ phi truyền thống được NHTW sử dụng để bơm tiền nhằm kích thích nền kinh tế khi các chính sách tiền tệ truyền thống đã bị vô hiệu
Mục đích
Chống giảm phát, tăng lượng tiền lưu thông
Kích thích đầu tư, chi tiêu và đối phó khủng hoảng
Cân đối ngân sách
Giải quyết tạm thời vấn đề nợ công
Cách thức tiến hành
NHTW tiến hành in tiền (theo hình thức điện tử) và ghi nợ vào tài khoản của mình
NHTW mua tài sản tài chính hoặc trái phiếu dài hạn qua đó làm tăng dự trữ vượt quá tại NHTM và tăng giá tài sản tài chính qua đó làm giảm lợi suất các tài sản này
NHTW kỳ vọng NHTM sẽ sử dụng số tiền này cho các doanh nghiệp và người dân vay để đầu tư hoặc chi tiêu để qua đó kích thích nền kinh tế
Kỳ vọng tác động đến nền kinh tế
Tạo ra và duy trì sự ổn định của các thị trường tài chính
Giảm thiểu phát sinh chi phí bảo hiểm rủi ro khi các tổ chức tài chính gây quỹ tại thị trường tài chính
Tăng lượng cung tiền góp phần giảm bớt lo ngại về rủi ro tín dụng
Cải thiện tình trạng suy thoái sâu hơn của nền kinh tế.
Để “giải cứu” và tiếp tục kích thích nền kinh tế Mỹ, FED đã triển khai chương trình “Operation Twist” hay còn gọi là QE 2,5, bao gồm hai gói có trị giá 400 tỷ USD và 267 tỷ USD. Nội dung chính của chương trình này là hoán đổi trái phiếu mà cụ thể là bán trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn ngắn (đáo hạn dưới 3 năm) và mua lại trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn dài (đáo hạn từ 6-30 năm). 

Như vậy, khác với QE thông thường, với chương trình này FED không làm tăng cung tiền và mở rộng bảng cân đối tài sản của mình mà chỉ thay đổi các thành phần trong bảng cân đối sử dụng nguồn vốn có sẵn.
Tuy nhiên, sau 2 gói QE1 và QE2, nền kinh tế Mỹ vẫn không có nhiều dấu hiệu khởi sắc. Chính phủ Mỹ quyết định tung ra gói QE3 vào tháng 9/2012, đồng thời cam kết tiếp tục giữ lãi suất ngắn hạn ở mức gần 0% ít nhất đến giữa năm 2015. FED tiến hành mua số lượng MBS trị giá 40 tỷ USD/tháng bằng cách phát hành tiền và mua lại tài sản của các ngân hàng. 

QE3 là gói chính sách tiền tệ mà FED đưa ra tạo điều kiện cho vay với lãi suất thấp nhất để doanh nghiệp (DN) Mỹ phát triển, phục hồi kinh tế. QE3 được thực hiện song song với chương trình “Operation Twist”. Như vậy, ước tính tổng cộng mỗi tháng FED sẽ nắm giữ khoảng 85 tỷ USD trái phiếu dài hạn.
Tuy nhiên, QE3 không giải quyết được bếtắc nội tại của nền kinh tếMỹ, do đó, người dân sẽtiếp tục thắt chặt chi tiêu. Hiện nay, FED đang cân nhắc cắt giảm quy mô QE3 xuống mức 65 tỷUSD/tháng vào cuối năm 2013.
Những tác động
Đối với nền kinh tế Mỹ
Việc triển khai các gói QE đối với nền kinh tế Mỹ là điều cần thiết để phục hồi đà tăng trưởng cũng như cải thiện thị trường việc làm khi các chính sách cũ không phát huy tác dụng. Tiến hành gói QE, một mặt FED mua lại MBS từ hệ thống ngân hàng, hỗ trợ tăng vốn khả dụng cho nền kinh tế để qua đó có khả năng kích thích thị trường việc làm; Mặt khác, khi FED mua MBS, giá các công cụ này sẽ bị đẩy lên cao đồng nghĩa với lợi suất trái phiếu giảm xuống, các nhà đầu tư sẽ tìm kiếm những tài sản khác như trái phiếu công ty. 

Về phần mình, nhà đầu tư mua trái phiếu công ty sẽ làm lợi suất trái phiếu công ty giảm xuống, như vậy DN có thể vay mượn với chi phí rẻ hơn. Chi phí vay rẻ hơn có thể khuyến khích DN mở rộng sản xuất kinh doanh làm tăng số lượng công việc cho nền kinh tế và làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người dân. Thu nhập tăng đồng nghĩa với chi tiêu tang, doanh số bán hàng tăng lên và giá nhà sẽ có thể tăng trở lại. Điểm cuối của chu trình này là thị trường hàng hóa và bất động sản có thể được phục hồi.
Đến nay, chưa có nghiên cứu nào chỉ ra được tác động cụ thể của gói QE1 cũng như ích lợi mang lại cho nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, theo đánh giá của FED, gói QE1 đãgóp phần ngăn chặn nền kinh tế lớn nhất thế giới này rơi vào một cuộc suy thoái sâu rộng. Nói cách khác, QE1 có tác dụng như một “gói kích thích niềm tin” khổng lồ. Nền kinh tế không còn lao dốc và lạm phát dần dần tăng lên. Tuy nhiên, giống như bất kỳ chính sách kinh tế nào, hiệu quả của QE1 cũng bị giảm dần theo thời gian và đó là tiền đề cho QE2 khi Mỹ cần có thêm động lực.
Không giống như gói QE1 và QE2, điểm khác biệt của gói QE 3 là không giới hạn thời gian và quy mô gói cứu trợ. Như vậy, một chương trình mua trái phiếu đã trở thành lời cam kết cho những hành động của FED trong tương lai. FED không mua vào một lượng tài sản cố định và mong đợi sau đó nền kinh tế sẽ hồi phục. FED tuyên bố sẽ tiếp tục mua cho đến khi nền kinh tế tốt lên và thị trường lao động được cải thiện rõ rệt.
Trên thực tế, gói QE3 đã đem lại những tác động tích cực đến nền kinh tế Mỹ. Cụ thể, tỷ lệ tăng trưởng GDP quý IV/2012 đạt mức 3,1%. Dù trong quý II/2013, kinh tế Mỹ có tăng trưởng chậm hơn (ước tính khoảng 1,3%) do những biện pháp thắt chặt chi tiêu của Chính phủ Liên bang giảm mạnh tới 4,9% so với mức dự kiến ban đầu là 4,1%. Tuy nhiên, chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ - yếu tố đóng góp tới hơn 70% vào các hoạt động của nền kinh tế lại liên tục gia tăng. Theo số liệu của tổ chức nghiên cứu Conference Board, chỉ số niềm tin tiêu dùng của Mỹ tháng 6/2013 tăng lên 82,1 điểm, cao nhất kể từ tháng 02/2008.
Các nhà lãnh đạo DN lạc quan hơn về nền kinh tế, khi người tiêu dùng đã bỏ nhiều tiền hơn cho việc mua ôtô và các loại hàng hóa khác. Thị trường nhà đất tiếp tục là động lực chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ, khi giá nhà liên tục tăng và đạt mức tăng mạnh nhất trong 7 năm qua. Giá nhà đất dự kiến tiếp tục tăng khi lãi suất cho vay thấp và người tiêu dùng cũng đã lấy lại niềm tin vào nền kinh tế trong khi nguồn cung nhà ở trên thị trường vẫn đang ở mức thấp nhất trong 1 thập kỷ.
Về thị trường việc làm, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) dự báo tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đến cuối năm 2013 sẽ giảm xuống mức 7,2% và đến năm 2014 có thể giảm xuống mức 6,5% - 6,8%. Số việc làm mới trung bình được tạo ra mỗi tháng ước chừng khoảng 163.000 trong quý II/2013 và dự kiến tăng dần lên 200.000 trong quý II/2014.
Như vậy, với 3 gói QE được FED tung ra trong những năm vừa qua đã giúp Mỹ tăng lượng tiền trong lưu thông, giảm lãi suất thấp gần mức 0%, từ đó giúp các tập đoàn và DN tiếp cận được với nguồn vốn một cách dễ dàng. Trên thực tế, gói cứu trợ này đã chứng minh tính hiệu quả của nó khi nền kinh tế Mỹ phục hồi nhanh chóng ngoài dự kiến. Tuy nhiên, vẫn có nhiều quan điểm trái chiều về tác động của QE đối với nền kinh tế Mỹ. Có nhiều ý kiến cho rằng, FED không nên thực hiện quá nhiều QE bởi các gói QE mới sẽ không hiệu quả và có thể còn gây ra những rủi ro cho nền kinh tế.
Về phía FED, việc cơ quan này liên tục tung ra các gói QE khổng lồ đã làm tăng tài sản nợ trong Bảng cân đối tài sản, do một lượng lớn tiền được “bơm vào” nền kinh tế không được trung hòa, tạo áp lực lạm phát. Hơn nữa, việc hoán đổi trái phiếu dài hạn bằng trái phiếu ngắn hạn mặc dù không làm thay đổi tổng tài sản của FED nhưng đã làm giảm chất lượng tài sản của FED, nghĩa là làm đồng USD yếu đi.
Đối với hệ thống ngân hàng, một trong những mục tiêu của QE là tăng vốn khả dụng cho ngân hàng thương mại (NHTM) để cho các tổ chức, DN và cá nhân vay vốn. Hai gói QE đầu tiên đã giúp giảm lãi suất và thúc đẩy thị trường cổ phiếu nhưng các ngân hàng lại không sẵn sàng trong việc cho vay tiền. Hệ thống ngân hàng hiện nay vẫn còn tồn lượng tiền dự trữ khổng lồ (ước tính khoảng 1.600 tỷ USD) không cho vay và bản thân các ngân hàng cũng vẫn chưa sẵn sàng nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng vốn còn đang trong tình trạng thắt chặt sau cuộc khủng hoảng tài chính.
Đối với nền kinh tế Mỹ nói chung thì ngay bản thân FED cũng nhận định là việc lượng hóa tác động của QE đối với lợi suất trái phiếu sẽ dễ hơn so với “đo đếm” hiệu quả QE đối với kinh tế vĩ mô. Như vậy, việc triển khai các gói QE khổng lồ không thực sự đem lại nhiều lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế Mỹ mà ngược lại đã trực tiếp làm gia tăng tỷ lệ nợ công của nước này (tỷ lệ này đã tăng đáng kể trong giai đoạn tiến hành các gói QE, cụ thể từ mức 87,1% năm 2010 lên tới mức 101,6% cho năm 2013).
Đối với kinh tế thế giới
Ở châu Âu đang phải vật lộn với “bài toán” nợ công, thì việc đồng USD giảm giá làm gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu từ Mỹ sang khu vực này đã buộc Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) phải liên tục hạ thấp lãi suất và bắt đầu chương trình mua tài sản. Nghĩa là, ECB cũng phải sử dụng biện pháp QE tương tự. Việc này một mặt tạo đà cho nền kinh tế toàn châu Âu tăng trưởng, nhưng mặt khác cũng không cải thiện được tình trạng nợ công trong khu vực.
Đối với châu Á, các gói QE của FED không có tác động tiêu cực tới nền kinh tế của các nước trong khu vực này. Điển hình nhất làNhật Bản, vì đồng Yên mạnh, Nhật Bản có thể kỳ vọng đồng Yên trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế phổ biến hơn khi các nền kinh tế như: Indonesia, Malaysia, Thái Lan tìm cách giảm dần phụ thuộc vào kinh tế Mỹ. Ngoài ra, bằng cách duy trì đồng Yên mạnh so với Euro và USD, Nhật Bản có thể tăng cường đầu tư và tập trung hơn vào hoạt động thương mại khu vực.
Gói QE3 đã tác động tích cực đến nền kinh tế Mỹ: tỷ lệ tăng trưởng GDP quý IV/2012 đạt mức 3,1%. Tuy nhiên, trong quý II/2013, kinh tế Mỹ có tăng trưởng chậm hơn (ước tính khoảng 1,3%) do những biện pháp thắt chặt chi tiêu của Chính phủ Liên bang (giảm mạnh tới 4,9% so với mức dự kiến ban đầu là 4,1%).
Tuy nhiên, việc hạ thấp lãi suất và bơm tiền của FED đã dẫn tới việc một lượng tiền lớn của Mỹ đã “chảy vào” châu Á tạo ra nguy cơ "bong bóng" tài sản trong khu vực này. Lo ngại vềvấn đềnày, Ngân hàng trung ương các nước trong khu vực phải thắt chặt chính sách tiền tệ, giảm đà tăng trưởng của khu vực trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ.
Cóthểnói, Hong Kong và Singapore có thể chịu tác động mạnh nhất từ các chính sách nới lỏng tiền tệ của Mỹ. Đồng đô la Hong Kong trên danh nghĩa neo tỷ giá theo USD nên khi FED tiếp tục triển khai chính sách nới lỏng tiền tệ, Hong Kong buộc phải đánh giá lại chính sách neo tỷ giá này. Giá nhà tại Hong Kong đã tăng 20% trong năm 2012 dẫn tới nguy cơ bong bóng bất động sản “phình to” hơn và thậm chí có thể “vỡ”. Điều này sẽ khiến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Hong Kong tăng cao như tình trạng ở Mỹ, châu Âu, Trung Quốc.
Tương tự, kinh tế Singapore dễ bị tổn thương bởi bong bóng bất động sản do chính sách neo lãi suất theo FED. Các chương trình nới lỏng định lượng của FED thực tế đang gây sức ép lạm phát cho Singapore. Các gói QE chưa mang lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế Mỹ như mong đợi của Chính phủ nước này, mà còn gây tổn hại đến nền kinh tế một số nước khác, do phụ thuộc vào nền kinh tế số 1 thế giới.
Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 9 - 2013

Chiến lược trade Gold tối ngày 30.10.2013

Buy 1347,x - 1350,x

Take profit 1354,x - 1358,x

Tối nay lên dải trên H1 1356,x - 1357,x khá cao

Dương Văn Kháng

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Dám thất bại để thành công.

Ngày trước, tôi luôn có suy nghĩ rằng thất bại và thành công là hai thứ đối lập nhau, cũng như đúng và sai không thể nào cùng gán cho một điều gì đó. Đã thất bại nghĩa là không thể nào chạm được đến thành công, và đã sai sót nghĩa là đâu thể làm điều gì đúng đắn.***

Những ai đã thành công đều phải trải qua một lần thất bại, những con người trưởng thành đều có những sai lầm trong quá khứ và những bài học của thuở ấu thơ. Ngày trước, tôi luôn có suy nghĩ rằng thất bại và thành công là hai thứ đối lập nhau, cũng như đúng và sai không thể nào cùng gán cho một điều gì đó. Đã thất bại nghĩa là không thể nào chạm được đến thành công, và đã sai sót nghĩa là đâu thể làm điều gì đúng đắn.

Nhưng hình như tôi đã lầm, hai mặt cứ ngỡ đối lập lại là một bộ đôi gắn kết nhau. Những ai đã thành công đều phải trải qua một lần thất bại, những con người trưởng thành đều có những sai lầm trong quá khứ và những bài học của thuở ấu thơ. Trên cùng một con đường đi đến thành công thì thất bại là một bước đệm cần phải có.
tôi sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện, về hai anh chàng tên là Nhút Nhát và Liều Lĩnh. Có một ngày, Nhút Nhát đã hỏi Liều Lĩnh rằng:
- Cậu sẽ lao đầu vào thất bại để tự rút cho mình một bài học hay sẽ học tập những bài học mà người đã từng thất bại trước đó truyền đạt lại cho cậu?

- Có lẽ tớ sẽ tự trải nghiệm - Liều Lĩnh trả lời - Bởi vì dù có truyền đạt hay đến mấy mà chưa từng trải nghiệm thì tớ không tin sẽ nhớ mãi bài học đó được.

- Thế à? - Nhút Nhát thở dài - Nhưng thất bại thì sẽ đánh mất nhiều thứ lắm. Tớ sẽ học hỏi từ những người đi trước để không bao giờ có sai sót trong đời.
Nhút Nhát trở thành một cỗ máy được lập trình mỗi ngày, cậu ta học cực giỏi, nhưng lại né tránh các mối quan hệ vì sợ đổ vỡ, cậu ta không dám tham gia bất kỳ trò chơi nào của tập thể vì sợ mình sẽ là người thua cuộc. Nhút Nhát thích vẽ, nhưng lại từ bỏ ước mơ vì sợ thất bại. Cậu ấy vào đại học Y, chuỗi ngày nhàm chán bắt đầu và cậu ta tìm đến Liều Lĩnh.


- Tại sao cậu có nhiều bạn thế? - Nhút Nhát hỏi


- Vì tớ chủ động kết bạn với mọi người .


- Nhưng cậu sẽ gặp những người bạn xấu ?


- Đúng! Nhờ những người bạn xấu mà tớ mới biết quý những người bạn tốt thật sự.


- Tại sao cậu dám mở một shop kinh doanh mà không sợ rằng mình sẽ lỗ vốn


- Vì nếu điều đó xảy ra thì tớ vẫn sẽ lời to khi thu về những kinh nghiệm cho mình.


- Tại sao cậu lại yêu thương một người hết lòng khi biết rằng sẽ chẳng có gì là mãi mãi?


- Vì tớ là con người, chứ không phải một cỗ máy, như cậu!


Nhút Nhát im bặt, chưa bao giờ cậu thất bại trong kinh doanh - vì cậu đâu dám nghĩ đến ý tưởng táo bạo đó, chưa bao giờ cậu bị những người bạn xấu lừa lọc mình - vì cậu đâu có một người bạn nào bên cạnh, chưa bao giờ cậu phải đau khổ trong tình yêu - vì Nhút Nhát ơi, cậu đâu dám mở trái tim mình ra vì sợ nó trầy xước.


Bạn có muốn sống như Nhút Nhát không? Thất bại lớn nhất của Nhút Nhát đó là : cậu ấy sợ phải thất bại.


Nếu muốn đi đến thành công, bạn đừng sợ thất bại và đừng tuyệt vọng khi gặp phải điều đó. Quan trọng là sau mỗi lần thất bại, bạn biết cách đứng lên và rẽ qua một con đường khác để đi đến thành công...