Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Tại sao Hoa Kỳ cần Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Tác giả: Bernard K. Gordon
Khi Vòng đàm phán Doha về mậu dịch toàn cầu gần đến năm thứ 12 mà chưa có dấu hiệu chấm dứt, các cuộc đàm phán gần như đã thất bại. Thất vọng vì tình trạng bế tắc của Doha và muốn bành trướng mậu dịch cũng như tạo dựng các liên minh, Hoa Kỳ đã ký kết một loạt các hiệp định tự do mậu dịch song phương (FTA), mà kết quả là đưa đến những hiệp định với Colombia, Panama, và Hàn Quốc vào năm ngoái. Nói chung, những hiệp định này có lợi cho Hoa Kỳ; hiệp định với Hàn Quốc được dự kiến là sẽ gia tăng mậu dịch giữa hai nước thêm hằng tỉ đô la và tạo hằng chục ngàn việc làm cho mỗi nước.
Mặc dù với những kết quả như thế, đường lối song phương không đưa ra nhiều hứa hẹn. Các thỏa thuận năm ngoái đã chấm dứt sự giằng co kéo dài đã 5 năm giữa, một bên, là đại đa số các dân biểu Cộng hòa Hạ viện Mỹ, những thành phần ủng hộ mậu dịch trong cộng đồng doanh nghiệp, và bên kia, là các dân biểu Dân chủ Hạ viện Mỹ, hầu hết các công đoàn, và các hãng chế tạo xe hơi, vốn tranh đấu dữ dội chống lại FTA với Hàn Quốc vì nước này đặt ra những hạn chế kéo dài nhắm vào việc bán xe Mỹ tại đó. Qua một tiến trình khó khăn gồm vận động hành lang, tranh đấu và thỏa hiệp, chính quyền Obama không còn thiết tha gì để có gắng đạt được một hiệp định song phương nào khác nữa.
Thay vào đó, để xúc tiến nghị trình mậu dịch của mình, Nhà Trắng đã lựa chọn một biện pháp trung dung giữa Vòng đàm phán Doha và các FTA  (hiệp định tự do mậu dịch) song phương: một tiến trình đa phương tập trung vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện đang được đàm phán giữa Australia, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ, và Việt Nam. TPP sẽ là một trong những thỏa ước thương mại rộng lớn nhất thế giới. Và nếu Canada, Mexico, và nhất là Nhật Bản (những nước này đều bày tỏ ý muốn tham dự các cuộc đàm phán vào tháng 11 năm ngoái) cũng ký kết hiệp định, TPP sẽ cộng thêm nhiều tỉ đôla vào nền kinh tế Mỹ và sẽ tăng cường các cam kết chính trị, tài chính, và quân sự của Washington đối với khu vực Thái Bình Dương trong nhiều thập kỷ tới. Với tiềm năng như vậy, chính quyền Obama tin rằng TPP có cơ hội để vượt qua sự chống đối trong nước hơn so với  Doha hoặc các thoả ước song phương mới.
Tuy vậy, TPP đang gặp nhiều trở ngại. Các nhà chỉ trích từ một số quốc gia đang tham gia các cuộc đàm phán vì e ngại rằng Hoa Kỳ sẽ cố gắng sử dụng hiệp định này để áp đặt các quy định về mở rộng về bản quyền và bằng sáng chế lên các đối tác thương mại nhằm bảo vệ các doanh nghiệp và các nhà sáng chế của mình. Bức màn tương đối bí mật vây quanh các cuộc đàm phán TPP chỉ đào sâu thêm các mối lo ngại ấy. Những nhà đàm phán cho phép các bên liên quan (interested stakeholders), từ công nghiệp đến đại chúng, trình bày thông tin tại các phiên họp công khai của TPP, nhưng họ không chịu công bố các văn bản đàm phán. Nếu chính quyền Obama không đáp ứng các lo ngại nói trên, thì sẽ có một khả năng ngày càng lớn là TPP có thể suy sụp. Hậu quả này sẽ là một thất bại to lớn đối với chính quyền Obama và phá vỡ luôn cả mục tiêu duy trì sự hiện diện lâu dài của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Binh Dương.
HỨA HẸN THÁI BÌNH DƯƠNG
Với nội dung được đề xuất hiện nay, TPP sẽ vượt quá những phạm trù thường được bao gồm trong các hiệp định thương mại. Trước tiên, trong thập kỷ tới, nó sẽ dần dần loại bỏ mọi thuế quan giữa các quốc gia thành viên. Nễu xem xét mô hình FTA giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc, TPP sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quan hệ kinh tế giữa các nước thành viên, bao gồm các chính sách đầu tư và thu mua của chính phủ, các tiêu chuẩn môi trường và lao động, nông nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ, và các lĩnh vực mới như các công ty quốc doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp có từ 50 đến 500 nhân viên. Hoa Kỳ và các quốc gia đối tác hi vọng rằng TPP sẽ trở thành then chốt của nền tự do mậu dịch trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Nhưng TPP không thể đạt được tiềm năng đó nếu không có sự tham gia của Nhật Bản. GDP của nước này còn cao gấp đôi GDP của tất cả các quốc gia TPP khác cộng lại, nếu không kể đến Hoa Kỳ. Gộp Nhật Bản vào trong nhóm nghĩa là TPP sẽ bao gồm 40% GDP toàn cầu và cộng thêm 60 tỉ đôla cho thị trường xuất khẩu của Hoa Kỳ. Đó là lý do tại sao chính quyền Obama và các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ việc mời thêm Nhật Bản vào TPP khi Tokyo biểu lộ ý muốn gia nhập. Vào tháng 12/2011, hơn 60 tổ chức nông nghiệp và thực phẩm Hoa Kỳ đã gửi một tuyên bố chung đến Ron Kirk, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, và Tom Vilsack, Bộ trưởng Nông nghiệp Hoa Kỳ, khuyến khích họ “tạo điều kiện thuận lợi để Nhật Bản chính thức tham gia vào TPP”. Một tuần sau, Business Roundtable (Bàn tròn Doanh nghiệp), một hiệp hội các tổng giám đốc, và U.S. Business Coalition for TPP (Liên minh Doanh nghiệp Mỹ vì TPP), một tập hợp các công ty ủng hộ hiệp định tự do mậu dịch này, đã gửi những lá thư tương tự đến Đại diện Thương mại Hoa Kỳ. Vào tháng 3/2012 Wendy Cutler, trợ lý Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, đã nói trước một cử tọa tại Tokyo rằng “Việc Nhật Bản tham gia TPP… là quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử. Và thành thật mà nói, sẽ rất hào hứng”.
Trước sự hấp dẫn của khả năng này, chính quyền Obama đã chọn TPP làm nguyên tắc cơ bản cho chính sách mậu dịch của mình, và đang làm mọi thứ có thể để hướng hiệp định này theo cách có lợi cho Hoa Kỳ. Chẳng hạn, chính quyền Obama đã nhấn mạnh việc khuyến khích và bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những doanh nghiệp này ít có kinh nghiệm trong việc giao dịch xuất, nhập khẩu, nhưng Washington hi vọng tăng cường vai trò của những đối tượng này vì chúng tạo ra phần lớn công ăn việc làm tại Mỹ. Vì thế, bằng cách hỗ trợ các doanh nghiệp này, chính phủ Hoa Kỳ có thể giành được sự hỗ trợ trong nước đối với các vấn đề thương mại. Từ lâu, người dân Mỹ đã tỏ ra thờ ơ với thương mạ, vì họ cho rằng thương mại chỉ làm lợi cho người nước ngoài, lấy mất công ăn việc làm của dân Mỹ, và làm gia tăng thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ vốn bị coi là tiêu cực bất kể một thực tế từ lâu là nó gắn với quyền lực thương mại và chính trị của Hoa Kỳ
NHỮNG NHẦM LẪN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Mặc dù chính quyền Mỹ hi vọng những nỗ lực định hình TPP của mình sẽ xoa dịu những lo ngại của giới công nghiệp và công đoàn Hoa Kỳ, TPP đã đụng chạm đến các nhóm lợi ích công cộng và chính phủ các nước khác đang đàm phán hiệp định TPP -- đặc biệt liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ.
Tháng 1/2011, một bản thảo liên quan quyền sở hữu trí tuệ từ các cuộc đàm phán TPP bị rò rỉ trên mạng. Một số nhóm lợi ích Mỹ và nước ngoài, như Intellectual Property (Cơ quan theo dõi quyền sở hữu trí tuệ), Public Knowledge (Tri thức công cộng), TPP Watch (Cơ quan theo dõi TPP), và Anonymous (Vô danh), đã gay gắt chỉ trích một số biện pháp được thảo ra trong văn bản rò rỉ này. Đặc biệt, họ lên án các đề xuất kêu gọi thi hành luật hình sự đối với các vi phạm bản quyền và bằng sáng chế, cho rằng việc này vi phạm các hiệp định hiện hành giữa các nước đàm phán. Họ cũng quả quyết rằng TPP sẽ đòi hỏi các công ty cung cấp dịch vụ Internet phải nêu danh tánh người sử dụng và rằng Hoa Kỳ đang tìm cách áp đặt một cách vô lý những biện pháp bảo vệ tác quyền rộng rãi của mình trong hiệp định. Luật pháp Hoa Kỳ qui định rằng đại đa số bản quyền phải chấm dứt sau 70 năm, nhưng các nhà chỉ trích cho rằng chính quyền Obama đã đều xuất trong TPP một điều khoản bản quyền tối thiểu 95 năm đối với một số tác phẩm. Hai chuyên gia pháp lý là Sean Flynn và Jimmy Koo đã nắm bắt được sự lo ngại của những người chỉ trích, khi họ viết vào năm 2011 rằng TPP sẽ tạo ra “một công cụ quốc tế cực đoan nhất, chống lại người tiêu dùng và sự phát triển trong linh vực quyền sở hữu trí tuệ từ trước đến nay”.
Chính quyền Obama đã hậu thuẫn những đề xuất này không phải để gây thiệt hại cho giới tiêu dùng nhưng để bảo vệ những nhà phát minh. Quyền sở hữu trí tuệ vốn là một nguồn giá trị chính đối với Hoa Kỳ; vào năm 2010, chẳng hạn, 40% số tiền chi trả cho những người giữ quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới -- gần 100 tỉ đôla – đã vào tay người Mỹ. Theo thông tin của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, những khoản tiền này tương đương với lợi nhuận kiếm được do việc xuất khẩu máy bay, ngũ cốc, và dịch vụ, ba lĩnh vực dẫn đầu thặng dư thương mại của Hoa Kỳ. Và quyền sở hữu trí tuệ của người Mỹ sẽ trở nên quan trọng hơn trong những năm tới khi một số phát kiến công nghệ có cơ sở tại Hoa Kỳ, như các kỹ thuật sản xuất thế hệ mới và thông tin liên lạc không dây tiên tiến, sẽ thúc đẩy sự phát triển thương mại của Hoa Kỳ. Những người sáng tạo ra những công nghệ này sẽ cần đến sự che chở của TPP ở mức độ ngang hàng mức độ bảo vệ của Luật pháp Hoa Kỳ đối với với những người nắm giữ bản quyền và các bằng sáng chế.
Hoa Kỳ gần như không phải là quốc gia duy nhất trong TPP TPP có lợi ích trong việc bảo vệ bản quyền quyền và bằng sáng chế cho công dân mình. Năm 2008, chẳng hạn, Nhật Bản đã dẫn đầu thế giới về số đơn xin bằng sáng chế. Và Singgapore, với những đầu tư công nghệ sinh học đáng giá nhiều tỉ đôla, cũng cần bảo vệ vấn đề này. Như vậy, Hoa Kỳ bảo vệ các chủ sở hữu của nước mình thì cũng bảo vệ các chủ sở hữu của các nước khác trong TPP. Nhưng rõ ràng là, một vài nước đang đàm phán hiệp định không cho rằng Hoa Kỳ quan tâm đến lợi ích cao nhất của họ.
CÁC THẢO LUẬN TỰ DO
Bất chấp quan tâm rộng lớn trong việc bảo vệ mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ giữa vài nước đàm phán TPP, một số quốc gia khác tiếp tục cáo buộc rằng Hoa Kỳ đang đưa ra những đòi hỏi vô lý. Tại phiên đàm phán TPP thứ 11, tại Australia tháng ba vừa qua, chẳng hạn, báo chí Úc tường thuật rằng mọi thành viên đàm phán TPP đều bác bỏ các đề xuất của Hoa Kỳ liên quan quyền sở hữu trí tuệ. Và vào giữa tháng tư, một số nhà đàm phán của Chi Lê đã bày tỏ hoài nghi về tương lai của hiệp định khi họ đặt nghi vấn là “liệu việc gia nhập TPP có xứng với những thiệt hại do nó gây ra nếu hiệp định này bao gồm thêm nhiều đòi hỏi về quyền sở hữu trí tuệ”.
Trong khi đó, trong suốt các phiên họp tương tự tại Australia vào tháng Ba, một số tổ chức đã lên án TPP về khả năng gây ra sự khan hiếm thuốc rẻ. Tổ chức Y sĩ không Biên giới, chẳng hạn, cáo buộc Hoa Kỳ về việc đưa vào TPP những điều khoản sẽ gây trở ngại cho việc cung cấp  các loại thuốc trị sốt rét và HIV/AIDS với giá rẻ cho những quốc gia đang phát triển. Trong một vòng đàm phán TPP trước đó, tổ chức này cho rằng hiệp định TPP sẽ “gia hạn việc bảo vệ độc quyền cho các loại thuốc cũ bằng cách chỉ làm một vài thay đổi nhỏ trong các công thức hiện hữu”, do đó ngăn chặn các công ty bào chế khác đưa ra các loại thuốc tương đương với giá rẻ hơn (cheaper generic drugs).
Chính phủ Hoa Kỳ không phản ứng lại tất cả các cáo buộc nhắm vào mình trong tiến trình đàm phán TPP, nhưng vào cuối tháng hai, Demetrios Marantis, phó đại diện thương mại Hoa Kỳ, nói rằng văn phòng của ông “hết sức bất đồng” với quan điểm của Tổ chức Bác sĩ không biên giới. Ông nêu rõ rằng sáu tháng trước đó Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đã thiết lập một chương trình TPP gồm 9 điểm mang tên “Trade Enhancing Access to Medicines” (Thương mại giúp tăng cường tiếp cận thuốc men), mà theo như ông này thì để nhằm đảm bảo rằng “Các loại thuốc giá rẻ có thể tiếp cận thị trường càng sớm càng tốt”.
Như vậy, chí ít Hoa Kỳ đã giải quyết những lo ngại của những người hoài nghi TPP. Nhưng một vấn đề nghiêm trọng hơn vẫn còn tồn tại. Trong thời đại Internet, những tin đồn về các điều khoản trong hiệp định có thể nhanh chóng châm ngòi cho một sự phản đối khắp nơi trên thế giới. Chỉ có một đường lối minh bạch hơn và cung cấp thông tin đầy đủ hơn về tiến trình đàm phán mới có thể chặn đứng những tin đồn như thế. Và, mặc dù Hoa Kỳ và các quốc gia đối tác đã tỏ ra muốn tiếp thu ý kiến của những cá nhân và tổ chức có quan tâm, nhưng các quốc gia này chưa thật sự công khai hóa tiến trình đàm phán với đại chúng, do đó gây ra những lo lắng chính đáng về hình thái sau cùng của hiệp định. Chẳng hạn, vào tháng giêng, Gary Horlick, một luật sư thương mại nổi tiếng và là cựu viên chức thương mại Hoa Kỳ, đã mô tả tiến trình TPP là “cuộc đàm phán thương mại kém minh bạch nhất mà tôi đã chứng kiến”. Mặc dù Kirk, đại diện thương mại Hoa Kỳ, đã gọi các cuộc đàm phán này là “tiến trình cởi mở, minh bạch nhất từ trước đến nay”, nhóm công tác của ông đã trình bày rất ít về lập trường của Mỹ trước công chúng và thậm chí trước những tổ chức quan tâm không chính thức tham gia các cuộc thảo luận TPP.
Vấn đề này đã trở nên căng thẳng vào tháng hai vừa qua, khi 23 tổ chức Mỹ đại diện cho các thư viện của hầu hết mọi cơ quan nghiên cứu và đại học của Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Obama “phải cho phép công chúng được tự do tiếp cận” các bản thảo của cuộc đàm phán. Họ lý luận rằng các điều khoản của TPP “sẽ ảnh hưởng đến mọi gia đình Mỹ” và rằng “việc thực thi và bền vững của các quy định đó… đòi hỏi tính minh bạch tối đa”. Vài ngày sau đó, Thượng nghị sĩ Ron Wyden (Dân chủ - bang Oregon) nêu yêu cầu này trong một cuộc trao đổi căng thẳng với Kirk. Đáp lại lời tuyên bố của Wyden, Kirk cho rằng chính quyền Obama đã “có động thái tiết lộ thông tin nhiều hơn và sớm hơn bất cứ một chính quyền nào trước đây”.
Không thoả mãn với câu trả lời của Kirk, Wyden đã đưa một dự luật đòi hỏi chính quyền phải tiết lộ bất cứ một văn bản đàm phán TPP nào “không quá 24 giờ sau khi văn bản đã được chia sẻ với các bên đàm phán khác”. Đề nghị của Wyden không gây được ảnh hưởng, nhưng những tiếng nói ầm ỉ đòi hỏi một sự cởi mở hơn nữa trong các cuộc đàm phán TPP vẫn còn tiếp diễn tại Hoa Kỳ cũng như ở nước ngoài.
MỘT LOẠI HIỆP ĐỊNH MỚI
Nếu các cuộc đàm phán TPP đạt được kết quả mong muốn, Hoa Kỳ sẽ trở nên hùng mạnh hơn, về kinh tế lẫn chính trị, trong thế hệ tới. Một thỏa thuận bao gồm cả Nhật Bản về cơ bản sẽ đem đến motọ FTA giữa Washington và Tokyo, đại diện cho điều mà lâu nay Mỹ vẫn tìm kiếm là “mở cửa Nhật Bản lần thứ ba” đồng thời khẳng định quyền lực Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương. Nói rộng ra, Hoa Kỳ hi vọng rằng TPP sẽ củng cố một hệ thống thương mại mở, nối kết giữa các thành viên lại với nhau trene nguyên tắc đồng thuận
Đó là lý do tại sao chính phủ Hoa Kỳ hi vọng hoàn tất các đàm phán vào cuối năm nay. Nhưng trước tiên, chính phủ này phải thuyết phục được lực lượng chống đối TPP ở trong nước, đặc biệt là ngành ô tô, bảo hiểm, và nông nghiệp Mỹ. Ngoài ra, chính phủ Hoa Kỳ cần phải hòa giải, trong bất cứ trường hợp nào có thể, những lo ngại của các nhà phê bình ở trong nước cũng như ở nước ngoài về những đòi hỏi liên quan quyền sở hữu trí tuệ. Và Hoa Kỳ phải minh bạch hóa hơn nữa tiến trình đàm phán. Nếu chính quyền Obama không chịu đi những bước này, thì nó có khả năng mất một cơ hội dọn đường cho một loại thỏa ước mậu dịch mới và tái khẳng định vai trò kinh tế và chính trị của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương.
BERNARD K. GORDON là Giáo sư Danh dự Khoa Chính trị tại Đại học New Hampshire. Ông là tác giả cuốn America’s Trade Follies (Những Điên rồ Mậu dịch của Mỹ) và một cuốn sách sắp ra về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Binh Dương.

Nguồn: www.foreignaffairs.com

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Kiếm 1,2 tỷ USD khi đồng Yên tụt dốc: George Soros đã làm như thế nào?

Danh mục ở các quỹ đầu tư của George Soros, được quản lý bởi Soros Fund Management, đã kiếm được số tiền “khủng” 1,2 tỷ USD trong 3 tháng vừa qua.
Bối cảnh kinh tế - chính trị Nhật Bản
Cho đến năm 2012, kinh tế Nhật Bản vẫn bị mắc kẹt trong “những thập kỷ mất mát”, kéo dài từ đầu thập niên 1990 với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và bất động sản. Tình trạng giảm phát trầm trọng trong 2 thập kỷ qua làm suy giảm niềm tin và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Kỷ nguyên tăng trưởng cao của thập niên 60, 70 và 80 đang dần trở thành quá khứ.
(Tuy nhiên, cần lưu ý là ngay cả khi kinh tế không tăng trưởng, phần lớn người dân Nhật Bản vẫn hưởng hệ thống phúc lợi tốt và tỷ lệ tội phạm ở nước này vẫn thấp so với Mỹ và châu Âu.)
Khả năng cạnh tranh của khối doanh nghiệp Nhật Bản (đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu, động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế) suy giảm nghiêm trọng, khi hàng loạt công ty điện tử danh tiếng một thời như Sony, Panasonic hay sản xuất ô tô như Toyota báo cáo lợi nhuận tụt dốc, và thậm chí thua lỗ.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc và các hệ lụy chính trị nảy sinh từ việc tranh chấp dai dẳng đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkakus ở biển Hoa Đông.
Thảm họa động đất, sóng thần vào tháng 3/2011 và sau đó là sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima khiến nền kinh tế Nhật Bản càng thêm “sóng gió”.
Nền chính trị Nhật Bản biến động sâu sắc với việc bổ nhiệm thủ tướng thứ 7 trong vòng chưa đầy 7 năm. Chủ tịch đảng Dân chủ Tự do (LDP) Shinzo Abe làm thủ tướng thứ 96 của Nhật Bản vào ngày 26/12/2012; và là người thứ hai với hai lần làm thủ tướng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (sau cố Thủ tướng Shigeru Yoshida hồi thập niên 1940 và 1950).
Các đời thủ tướng Nhật Bản trong 7 năm vừa qua. Nguồn: AFP/TTXVN 
Gói kích thích kinh tế 20.200 tỷ Yên (226,5 tỷ USD)
Thủ tướng Shinzo Abe ngay lập tức đã thực hiện chính sách kinh tế Abenomics, với trọng tâm là tăng cường chi tiêu công và nới lỏng mạnh hơn chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đạt tỷ lệ lạm phát 2%/năm.
Trong đó, đáng chú ý là gói kích thích kinh tế trị giá 20.200 tỷ Yên (226,5 tỷ USD) nhằm đưa GDP tăng thêm 2% và tạo ra ít nhất 600.000 việc làm.
Ông Abe cũng gia tăng áp lực đối với Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ), buộc ngân hàng này nới lỏng tiền tệ nhiều hơn nữa.
George Soros kiếm được 1,2 tỷ USD khi “đánh xuống” đồng Yên
Hệ quả của các kỳ vọng đối với chính sách này là đồng Yen đã liên tục giảm giá so với các ngoại tệ chủ chốt khác và mất đến 17% trong 3 tháng 11, 12/2012 và tháng 1/2013; trong khi thị trường chứng khoán hồi phục mạnh mẽ 28% trong giai đoạn từ tháng 10/2012 – 1/2013.
Theo Wall Street Journal, danh mục ở các quỹ đầu tư trị giá 24 tỷ USD của George Soros, được quản lý bởi Soros Fund Management, đã có mức sinh lời “khủng” 1,2 tỷ USD trong 3 tháng vừa qua.
Đáng lưu ý là các quỹ đầu cơ của George Soros đã “đánh cược” vào nền kinh tế Nhật Bản (đồng Yên giảm, cổ phiếu tăng) cách đây hơn 3 năm, đến lúc này mới gặt hái thành quả.
Người thực hiện chiến lược đầu tư này là Scott Bessent, 50 tuổi, Giám đốc Đầu tư tại Soros Fund Management. 
Scott Bessent gia nhập Soros Fund Management vào năm 1991 và trở thành Giám đốc Đầu tư từ tháng 10/2011.
Scott Bessent điều hành văn phòng Luân Đôn của Soros Fund Management trong 8 năm và đóng vai trò quan trọng trong thương vụ đầu tư tiền tệ (Bảng Anh) nổi tiếng vào năm 1992.
Khi đó, George Soros đánh cược rằng Ngân hàng Trung ương Anh (Bank of England) sẽ buộc phải phá giá mạnh đồng Bảng. Thực tế đúng như dự đoán của George Soros và thương vụ đầu tư 10 tỷ USD đã đem lại cho ông 1 tỷ USD chỉ trong vòng 1 tuần. George Soros được mệnh danh là “Người hủy diệt Ngân hàng Trung ương Anh” kể từ đó.
- See more at: http://www.bfinance.vn/chung-khoan/kiem-12-ty-usd-khi-dong-yen-tut-doc-george-soros-da-lam-nhu-the-nao.aspx#sthash.yiXZtMe9.dpuf

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014

Rửa tiền và thiên đường trốn thuế

Nguyễn Thượng Chánh, DVM 

Chuyện rửa tiền và thiên đường trốn thuế ai cũng có nghe nói đến nhưng ít người biết rõ là gì.                                                 
Mọi thắc mắc, xin quý bà con cứ tìm hỏi các cố vấn ngân hàng, các đại tài phiệt, đại gia, siêu sao, tài tử, ca sĩ, nhà thể thao thượng thặng, các chánh khách, dân biểu, các bố già, cartel trùm ma túy, xã hội đen, các tổ chức buôn người, và những người có máu mặt trong xã hội, v.v…
Phỏng theo: Comment blanchir l’argent sale? (Làm sao rửa tiền bẩn)
Tiền mặt quá nhiều, tiền bẩn (tham nhũng, ăn cắp, kinh doanh, đầu cơ tích trữ, làm ăn lương lẹo,  cướp, buôn bán vũ khí, cần sa ma túy, bài bạc, buôn lậu, v.v…) cần phải giấu bớt để khỏi phải đống thuế.                                                              
Có ba giai đoạn:
1)   Placement-Ký thác (còn gọi là rửa trước prélavage hay ngâm immersion) -Đem ký thác các số tiền bất chánh vào hệ thống ngân hàng hay có thể đổi ra thành séc du lịch traveller’s chequemoney order…Mục đích, đem số tiền bất chánh ra khỏi nguồn gốc đầu tiên. Giai đoạn này nguy hiểm nhứt.
2)   Empilage hay Layering (tiếng Anh)-phân tán/ xào trộn (dispersion/brassage)- mục đích xóa mất dấu vết, nguồn gốc của đồng tiền bẩn qua các dịch vụ ngân hàng transaction phức tạp và đồng thời cũng để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp.
3)   Intégration-Hội nhập (recyclage/essorage) xoáy/ vắt
Tiền trở nên trắng sạch, nguồn gốc “bẩn” bị che mất và tiền hội nhập dễ dàng vào hệ thống kinh tế hợp pháp. Sau đó bạn có thể đem sử dụng tiền một cách hợp lệ.
Kỹ thuật rửa tiền (techniques de placement)
1)     Đầu tư tiền mặt vào cơ sở kinh doanh của một người “bạn phe ta” hoặc do chính mình làm chủ cơ sở đó (Injecter cet argent liquide dans le chiffre d’affaires d’un commerce complice ou dont je suis propriétaire).
2)     Khai dỏm đó là tiền có được từ cờ bạc đỏ đen (déclarer de faux gains aux jeux)
3)     Mua tác phẩm nghệ thuật từ các cuộc đấu giá (acheter des oeuvres d’art aux enchères)
4)     Mua đồ xài thuộc loại chiến địa, hàng hiệu (acheter des objets de luxes)
5)     Áp dụng kỹ thuật “Hawala” (utiliser la technique Hawala)
Hệ thống Hawala là gì?Lối chuyển tiền trong giới Hồi giáo. Làm ăn trong băng nhóm phe ta, tin tưởng nhau tuyệt đối, rất chặt chẽ, chết sống có nhau, tiền bạc đổi lấy vũ khí,villas,..Nếu bị xét hỏi thì khai đó là tiền thừa hưởng gia tài hay tiền xuất phát từ tập thể tương tợ như cho vay, tặng, hay mua tài vật trong phạm vi gia đình và bạn bè với nhau. Cơ quan Interpol nói rằng Hawala là “ một lối chuyển tiền mà không thấy sự di động của đồng tiền” (money transfer without money movement). Không cần có giấy tờ biên nhận. Lấy sự tín nhiệm làm kim chỉ nam trong việc làm ăn với nhau.
6)     Chia nhỏ ra những số tiền ký thác ngân hàng (fractionner les dépôts à la banque). Gởi tiền và tiền lời vào trương mục của mình hoặc của bạn mình.
7)     Mưón dịch vụ chiến địa de luxe- Trả bằng tiền mặt (liquide) các dịch vụ thuộc hạng sang. 
8)     Làm hóa đơn giả (rédiger des fausses factures
9)     Đem tiền ra ngoại quốc (transporter l’argent à l’étranger)- Chuyển đổi tiền ra thành những những tờ giấy bạc có giá trị cao như tờ 500 euros. Sau đó chuyển số tiền trên đến những xứ mà luật lệ rửa tiền không quá gắt gao, như Nga chẳng hạn.
10)   Sử dụng dịch vụ của một công ty bảo hiểm (Utiliser les services d’une société d’assurance)
11)   Ký thác số tiền của mình vào một trương mục ẩn danh (Déposer votre argent sur un compte anonyme)
12)   Đơn giản hơn hết, là đem gởi tiền vào một thiên đường trốn thuế (tout simplement déposer votre argent dans un paradis fiscal.)- đặc điểm: lãi suất chịu thuế hàng năm rất hạ (1%- 3%), thậm chí không có thuế (taux réduit ou nul)- Bí mật hoàn toàn (?).
Đa số ngân hàng Âu Châu và Hoa Kỳ, Canada đều có chi nhánh tại các thiên đường trốn thuế.
Sau đây là một số thiên đường trốn thuế
Địa chỉ quan trọng: Best tax havens (các bạn vô site này mà tìm hiểu và mặc sức mà lựa chọn thiên đường!)
*Có 14 nơi tại các vùng đảo Caraibes: Anguilla, Antigua et Barbuda, Antilles néerlandaises, Bahamas, Aruba, Barbade, Bermudes, Ile Cayman, Montserrat, St Kitts et Nevis, Ste Lucie, St Vincent, Turks &Caicos Islands, Iles Vierges britanniques vv…
*Có 3 nơi tại Trung Mỹ: Belize, Costa Rica, Panama…
*Có 12 nơi tại Âu châu/Địa trung hải: Andorre, Chypre, Gibraltar, Guernesey, Jersey, Luxembourg, Liechtenstein,Monaco, Suisse, Malte, Madère, Ile de Mans vv…
*Có 10 nơi tại Á châu/Thái bình dương: Hongkong, Macao,Singapour, Samoa occidentales, Iles Mariannes, Iles Marshall vv…
*Có 3 nơi tại Trung Đông: Bahrain, Doubai, Liban.
*Có 2 nơi tại Ấn độ dương: Iles Maurice, Iles Seychelles
*Có 6 quốc gia cho phép dịch vụ “services offshore”(công ty ngoại biên?)  tại một vài địa điểm nhứt định trên xứ họ
Các quốc gia đó là: USA, Irlande,  United Kingdom, Maroc, Taiwan, Thailande.
Công ty ngoại biên (Offshore) là gì?
Là những công ty được phép làm ăn một cách hợp pháp bên ngoài lãnh thổ mà nó được thành lập. Đặt tại những thiên đàng trốn thuế, các công ty offshore bắt buộc phải tuân theo nguyên tắc bí mật ngân hàng và kỹ nghệ. Tuy công ty offshore mang một bộ mặt sinh hoạt kinh tế hợp pháp, nhưng nó là công cụ lý tưởng để che giấu sự pha trộn tiền bẩn vào vốn đầu tư với những lợi nhuận hợp pháp.
Thiên đường trốn thuế (Paradis fiscaux, tax haven)
Chúng ta thường nghe nói các tổ hợp quốc tế, các xí nghiệp, các đại tài phiệt, các nhà bào chế dược phẩm, chánh khách, đại gia thường có nhiều cách trốn thuế một cách hợp pháp.
Theo luật pháp quốc tế, sự hiện hữu của thiên đường trốn thuế đều hợp pháp. Đây không phải là những lãnh thổ “nổi loạn”(rebelles) hay “ăn cướp”(pirates), phát triển âm thầm mà các xứ khác không biết.
Thiên đường trốn thuế tồn tại và phát triển nhờ vào tài sản của các quốc gia Tây phương, đứng đầu là Hoa Kỳ và Châu Âu.
Có rất nhiều nhân vật đầu não thấy cần phải có sự hiện hữu của các “hợp đen”(boites noires)trong ruột của nguồn máy kinh tế thế giới. Các “hợp đen” che đậy một cách tuyệt vời sự lưu thông, các điểm đi và đến của nguồn vốn đầu tư. Bằng cách nầy họ rất dễ trốn thuế, tạo tham nhũng (corruption), thụt két (détournement), tài trợ ma (financements occultes), và rửa nguồn vốn đầu tư (blanchiments des capitaux).
Sự hiện hữu của thiên đường trốn thuế theo mô hình hiện nay tương đối còn rất mới mẻ. Nó đi đôi với hiện tượng toàn cầu hóa việc trao đổi kinh tế và sự trổi dậy của chủ nghĩa tự do.
Những lý lẽ để duy trì sự có mặt của thiên đường trốn thuế
Nói chung, tất cả mọi người đều chống đối sự có mặt của thiên đường trốn thuế ngoại trừ phần lớn các cấp lãnh đạo và các giới nắm vận mạng kinh tế thế giới. Họ đều muốn có những khu vực thuế khóa ưu đãi (privilégié) cũng như sự bí mật về ngân hàng. Không ít xí nghiệp, cấp điều khiển, nhà chánh trị, siêu sao về nghệ thuật, điện ảnh và thể thao thường chọn nơi cư trú là những thiên đường trốn thuế.
 Theo nhà báo Elise Lucet của đài France 2 trong phóng sự Cash Investigation-Paradis Fiscaux cho biết:  thay gì lợi tức hàng năm phải chịu trên 33% thuế như trường hợp bên Pháp, họ chỉ phải đóng thuế rất ít nếu chuyển qua làm ăn bên Luxembourg để được hưởng điều kiện bớt thuế.
Và chỉ phải chịu thuế trên một phần nhỏ trên tổng số lợi tức mà thôi…Có nhiều mánh lắm.
Các nhà lãnh đạo thế giới như TT Obama, cựu TT Sarkozy vv… đều hứa hẹn sẽ đề ra các biện pháp cứng rắn để cải cách thuế khóa hầu dẹp trừ vấn nạn trốn thuế của giới kỹ nghệ và dân nhà giàu và các nhà chánh trị…Nhưng có lẽ còn lâu, lâu lắm mới thực hiện được.
Tổng thống F. Hollande của Pháp thì vừa bị hố to trong vụ xì can đan của cựu tổng trưởng ngân sách Cahuzac. Mất mặt quá vì mang tội rửa tiền. Lúc đầu ông ta thề là không có tiền trong thiên đuờng Suisse nhưng sau đó thì phải thú nhận là có…Chưa chắc là mấy ông khác là hoàng toàn trong sạch đâu.
Tài phiệt vẫn đóng thuế ít hơn giới trung lưu. Giàu vẫn sướng hơn nghèo. Đây là chân lý bất di bất dịch.
Xưa nay thiên hạ thường nói thiên đường trốn thuế là Thụy Sĩ, Hong Kong, Cayman Islands (Bahamas), Luxembourg, Gibraltar vv…
Để hiểu rõ thêm vấn đề thiên đường trốn thuế người gõ xin các bạn theo dõi thiên phóng sự video Cash Investigation –Paradis fiscaux của đài France 2 và do nhà báo Elise Lucet thực hiện.
Một bí mật đã giúp các đại tài phiệt trên thế giới đóng càng ít thuế càng tốt, nhờ vậy họ có thể thu vào những lợi nhuận kết xù. Có tất cả là 40 000 tài liệu (lưu trữ tại Luxembourg) trong đó có rất nhiều hồ sơ cho thấy có vấn đề thuế má rất đáng nghi ngờ…Trong phim, công ty dược phẩm Glaxo bị đem ra trước ánh sáng công luận.
 Kết luận:
Ở đâu cũng vậy mà thôi
 - Não lòng
-Tiền không có mùi vị
“Theo tôi tiền không có mùi vị- Nó chi phối thế giới, và làm cho cả thế giới trở nên thúi tha”.

-Ai cũng vậy mà thôi 

 Xì can đan Vatican  Bank liên can trong việc rửa tiền năm 2010. Sếp sòng nhà băng là Ettore Gotti Tedeschi bay chức. Tòa Thánh Vatican tuyên bố rất ngạc nhiên và hứa sẽ « trong suốt hơn » trong các vấn đề tiền bạc với sự ra đời của cơ quan Financial Information Authority./.

 Montreal, 2013
(Khoahocnet)

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

Nhật Bản - "Thập niên mất mát"

“Thập niên mất mát” (lost decade) là thời kỳ đình trệ kinh tế kéo dài của Nhật Bản suốt những năm 90 của thế kỷ trước. Trong giai đoạn này tình hình của Nhật Bản có những nét rất giống với nước ta hiện nay: Thị trường bất động sản sau thời gian dài bùng nổ rơi vào trạng thái ảm đạm, giá nhà lao dốc; lãi suất liên tục giảm nhưng kinh tế vẫn đình trệ do ngân hàng ngại cho vay vì lo nợ xấu...
Giới phân tích tin rằng nguyên nhân trực tiếp đẩy Nhật Bản vào thập niên mất mát là sự hình thành và đổ vỡ bong bóng bất động sản, kéo theo diễn biến tương tự trên các thị trường chứng khoán, tín dụng... Nhưng gốc rễ của vấn đề vẫn là những sai lầm về chính sách.
Bong bóng tài sản
Bong bóng tài sản Nhật Bản hình thành sau thời gian dài nở rộ kinh tế hậu chiến tranh và bắt đầu tăng tốc vào nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, một phần vì những chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ).
Với việc tiếp cận tín dụng dễ dàng, các doanh nghiệp nhanh chóng biến nền kinh tế đất nước chuyển sang đặt nền tảng trên công nghệ, đặc biệt trong ngành điện tử tiêu dùng, viễn thông và tài chính. Nhu cầu đối với các sản phẩm công nghệ mới và tiên tiến hơn, cộng với mức sống gia tăng, đã nuôi dưỡng “cơn điên đầu tư tài sản” được biết đến với tên “cơn sốt Heisei”, theo tên của vị Nhật Hoàng lên ngôi năm 1989.
Giá trị của đồng yen tăng mạnh trong thời kỳ này nhờ Tokyo vươn lên thành một trung tâm tài chính quốc tế, cộng với tác động từ Thỏa thuận Plaza 1985 - một thỏa thuận điều chỉnh tỷ giá USD giảm so với yen. Thị trường chứng khoán Nhật Bản tăng đột biến trong thời gian này, với chỉ số Nikkei 225 tăng hơn 300% từ năm 1985 đến 1989.
Thị trường bất động sản Nhật Bản lên cơn sốt khi giá nhà ở bình quân tăng 51%/năm, trong khi giá bất động sản thương mại tăng 80%/năm trong giai đoạn1985-1991. Điều này khiến niềm tin của giới đầu tư lên cao quá mức khi họ sẵn sàng đổ tiền mà không cần cân nhắc, dẫn đến nhiều quyết định đầu tư xấu.
Các ngân hàng cũng sôi động không kém, đã vay gần 200.000 tỷ yen (3.400 tỷ USD) từ các thị trường nước ngoài trong giai đoạn này. Tính đến năm 1991, các ngân hàng Nhật Bản chỉ dự trữ 3.000 tỷ yen để dự phòng cho 450.000 tỷ yen đã cho vay.
Điều nguy hiểm là việc quản lý rủi ro hầu như chả mấy ai bận tâm, khi chỉ cần vung tiền hôm nay là ngày mai kiếm được một khoản lời to. Giới đầu tư bỏ ngoài tai mọi cảnh báo.
Cơn sốt trên thị trường bất động sản đã khiến thị trường chứng khoán (TTCK) Nhật Bản hình thành bong bóng. Chỉ số Nikkei 225 từ 13.000 điểm năm 1986 tăng tới mức 38.975 điểm năm 1989.
Và khi thị trường bất động sản vỡ bong bóng, chỉ số này nhanh chóng lao dốc, từ 38.975 điểm năm 1989 xuống còn 15.025 điểm vào tháng 7-1992 và tiếp tục rơi tự do trong thập niên mất mát. Tính đến tháng 4-2003, chỉ số Nikkei 225 chỉ còn 7.603 điểm, hiện nay dao động quanh mức 9.000 điểm.
Lỗi chính sách
Mặc dù các ngân hàng/định chế tài chính đóng một vai trò chủ yếu trong việc hình thành và vỡ bong bóng ở Nhật Bản, chính sách tiền tệ cũng là một nguyên nhân gốc rễ. BoJ tạo tiền đề cho cơn sốt tài sản khi nới lỏng tín dụng và đưa lãi suất dần đến những mức thấp giả tạo.
Điều này khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp chấp nhận mang nợ mà bình thường họ không dám mang, hay quyết định đầu tư những thứ lẽ ra không nên đầu tư. Khi một ngân hàng trung ương tăng cung tiền và hướng lãi suất xuống dưới mức lẽ ra ở một thị trường tự do, nó gửi đi dấu hiệu sai lầm khiến các doanh nghiệp vay mượn và đầu tư nhiều hơn vào các dự án tư bản và các loại hàng hóa bình thường họ không nghĩ đến.
Tương tự, người tiêu dùng sẵn sàng đi vay nhiều hơn để mua nhà thế chấp, chi tiêu mạnh tay hơn qua các loại thẻ tín dụng, tiết kiệm ít, chi tiêu nhiều.
Nhưng bữa tiệc tín dụng không thể kéo dài mãi và khi lãi suất tăng trở lại, các khoản đầu tư xấu lộ diện - một sự thật đau đớn được làm rõ: hầu hết các khoản tín dụng thoải mái vay mượn trước đây không dễ trả.
Từ tháng 1-1986 đến tháng 2-1987, BoJ hạ lãi suất chiết khấu từ 5% xuống 2,5%, dẫn đến sự bùng nổ giá bất động sản và chứng khoán. Nhận thấy bong bóng đang hình thành, BoJ sau đó tăng lãi suất 5 lần chỉ trong 2 năm 1989 và 1990, lên mức 6%. Sự gia tăng này khiến các khoản đầu tư tồi, nợ xấu lộ diện, chứng khoán bắt đầu chuỗi trượt giá kéo dài và đau đớn.
Khi suy thoái bắt đầu manh nha vào năm 1990 sau khi TTCK sụp đổ, Nhật Bản đáp lại bằng cách đảo ngược chính sách tiền tệ thắt chặt thành nới lỏng, hạ lãi suất xuống 4,5% năm 1991; 3,25% năm 1992; 1,75% năm 1993 và 1994; 0,5% từ năm 1995-2000 và thấp kỷ lục 0,1% từ tháng 9-2001.
Các nhà hoạch định chính sách thời hậu bong bóng đều tin rằng hạ lãi suất sẽ giúp tín dụng dễ tiếp cận, từ đó tái tạo môi trường từng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng có một điều phi lý là các nhà chức trách đã chữa một cuộc vỡ bong bóng gây ra bởi chính sách tín dụng dễ dãi bằng tín dụng dễ dãi hơn.
Những động thái cắt giảm này chỉ bóp méo các quyết định kinh tế và ngăn cản tiền gửi tiết kiệm, đầu tư và tiêu thụ vào các kênh lẽ ra họ nên đầu tư/hàng hóa họ vẫn mua…
Bài học được rút ra: Khi chính sách tiền tệ được dùng để xoa dịu hay điều chỉnh thị trường, hậu quả khó tránh khỏi là trong một số trường hợp có thể gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Theo Văn Cường (Sài Gòn đầu tư tài chính)

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Tinh thần Hàn Quốc nhìn từ châu Âu

NangluongVietnam -  Có hai điều đáng nhớ về cách người Hàn Quốc đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á - Một là tốc độ tái thiết nền kinh tế thần kỳ và hai là sự sẵn sàng chung tay của người dân trong sự nghiệp của cả dân tộc. Ít ai có thể hình dung là chỉ 15 năm trước đây, Hàn Quốc đã đứng bên bờ vực phá sản. Thế nhưng chỉ trong vòng 3 năm kinh tế Hàn Quốc đã hồi phục, mạnh mẽ hơn bất kỳ quốc gia nào khác và rồi có thể trả nợ. Điều kỳ diệu gì đã diễn ra?

HƯNG NINH
Seoul - trung tâm thương mại sôi động và sầm uất của Hàn Quốc
Sự chuyển mình kỳ diệu
Seoul ngày này trở thành một trung tâm thương mại sôi động và sầm uất. Nhưng vào năm 1997, bao trùm lên toàn khu vực là tình trạng nợ nần và nợ nần...
Sức cạnh tranh yếu kém, hoạt động doanh nghiệp hết sức ảm đạm cộng với sự gia tăng các khoản nợ xấu đã thực sự làm tê liệt hệ thống ngân hàng tài chính. Khả năng quản lý kinh tế vĩ mô của chính phủ còn hạn chế cộng với những khoản nợ nước ngoài đã tạo nên một hiệu ứng tiêu cực, lòng tin của thế giới đối với nền kinh tế này bị xói mòn khiến cho Hàn Quốc đối mặt với nguy cơ đổ vỡ rất lớn.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã diễn ra và trở thành một đòn đau không chỉ với Hàn Quốc mà còn với toàn khu vực. Nhiệm vụ đặt ra cho nước này lúc đó là tìm ra con đường thoát khỏi bế tắc và họ đã thành công.
Trước tiên là chấp nhận một khoản vay khổng lồ trị giá 58 tỷ USD từ quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), và sau đó là từng bước giải quyết những khó khăn bằng một cuộc cải cách toàn diện và đồng bộ với sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân.
Nhận khoản vay từ IMF đồng nghĩa với việc Hàn Quốc sẽ phải chấp nhận thực hiện cam kết với tổ chức này về chính sách thắt lưng buộc bụng vô cùng hà khắc. Họ chấp nhận thu hẹp sản xuất. Một loạt các ngân hàng lớn, các doanh nghiệp lớn phải tạm dừng hoạt động.
Thế nhưng với những nỗ lực không mệt mỏi của cả chính phủ và nhân dân, Hàn Quốc đã phục hồi nhanh chóng. Chỉ trong vòng 3 năm kinh tế Hàn Quốc đã cải thiện rõ rệt, mạnh mẽ hơn bất kỳ quốc gia nào khác và rồi có khả năng trả nợ.
Tăng tưởng GDP đạt 5,8% năm 1998 và 10% năm 1999, trong khi đó tăng trưởng công nghiệp cũng tăng từ 7,3% lên 20% năm 1999. Thâm hụt tài chính ở mức 23 tỷ USD vào năm 1996 đã được khắc phục và đến năm 1999, thặng dư 20 tỷ USD. Dự trữ ngoại tệ cũng tăng từ 7,2 tỷ USD năm 1997 lên 68,4 tỷ USD chỉ sau hai năm. Trong khi đó tỷ lệ thất nghiệp cũng giảm nhanh chóng xuống chỉ còn hơn 4% năm 2000.
Giờ đây Hàn Quốc đã trở thành một trong những nền kinh tế mạnh nhất trên thế giới.
Ông Mike Breen, phóng viên Seoul từ thời kỳ khủng hoảng cho biết, nhiều người dân Hàn Quốc ngày nay rất sửng sốt khi thấy phản ứng của người Hy Lạp khi đối mặt với nguy cơ phá sản của đất nước.
Sự hy sinh của người Hàn Quốc
Có hai điều đáng nhớ về cách người Hàn Quốc đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Một là tốc độ tái thiết nền kinh tế thần kỳ và hai là sự sẵn sàng chung tay của người dân trong sự nghiệp của cả dân tộc.
Tất cả mọi người dân Hàn Quốc, ai ai cũng có ý thức và trách nhiệm giúp đất nước vượt qua gian khó. Họ ngủ ít hơn, làm việc chăm chỉ hơn, chi tiêu ít hơn và tiết kiệm nhiều hơn bên cạnh việc không ngừng học hỏi để phát triển khả năng cạnh tranh.
Bà Choi Gwang-ja, người dân Seoul hiện đang sống tại khu căn hộ sang trọng ở miền Nam thành phố (biểu tượng cho sự thành công của Hàn Quốc bởi mỗi căn hộ tại đây có giá 1 triệu USD).
Nhìn đứa cháu gái 9 tuổi đang chơi đùa, bà Choi nói về truyền thống được nhận quà (nhẫn vàng) khi sinh con của người Hàn Quốc.
Thế nhưng bà lại không còn chiếc nhẫn nhận được khi sinh con gái trước đó bởi cũng giống như nhiều người phụ nữ Hàn khác, bà đã bán trang sức để góp phần giúp đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính.
"Khi phải bán trang sức đi, với tôi là một cái gì đó thật đau đớn. Thậm chí là bây giờ, mỗi khi nghĩ tới, tôi lại rơi nước mắt. Bởi mỗi một món đồ trang sức là một kỷ vật, nhẫn đính hôn của hai vợ chồng tôi, nhẫn nhận được trong ngày sinh con gái... Nhưng vào thời điểm ấy thì đó là điều duy nhất chúng tôi có thể làm. Người ta nói, đất nước sắp phá sản." bà Choi chia sẻ.
Đây là một nghĩa cử cao đẹp của không chỉ bà Choi Gwang-ja mà còn của hàng triệu người dân Hàn Quốc lúc bấy giờ.
Nhiều chiến dịch vận động được thực hiện trên khắp cả nước. Mọi người được khuyến khích mua hàng nội địa và quyên góp ngoại tệ cho chính phủ.
Bên cạnh những cuộc vận động này là những chương trình tái thiết mạnh mẽ và toàn diện. Và tại một đất nước nơi mà các tổ chức công đoàn trở thành chiến sĩ thì hẳn phải có sự cắt giảm lao động. Vậy chính phủ đã làm thế nào?
Tại các văn phòng của Bộ Tài chính, có một không gian bao trùm lên tất cả, đó là không gian ảm đạm, trống trải.
"Thật đáng sợ bởi ở đó có cái cảm giác của sự sợ hãi!", ông Lee Chan-woo, phó giám đốc ban chính sách kinh tế của Bộ trong thời kỳ khủng hoảng cho biết.
Khi được hỏi làm thế nào để có thể tập hợp được công chúng, ông nói: "Đó là sự sẻ chia gánh nặng. Tất cả mọi thành phần của nền kinh tế phải nhận thức được nghĩa vụ bình đẳng của mình trong hành trình tái thiết nền kinh tế. Vì thế, những người nắm giữ tài sản hay những cổ đông chính, họ đều cắt giảm cổ phần của mình trong doanh nghiệp hoặc chuyển giao tài sản vì sự nghiệp chung".
"Quản lý và nhân viên chấp nhận bị cắt lương, thậm chí nghỉ việc. Sự đồng lòng của mọi người chính là nền tảng quan trọng".
Mặc dù ông Mr Breen cũng nói không hề dễ dàng để người dân tin vào chính phủ của mình.
"Người Hàn Quốc cũng giống như người châu Âu, cũng ích kỷ, bất đồng và ngờ vực. Nhưng bên cạnh đó, họ đã từng trải qua cái nghèo, cái đói và họ làm được điều kỳ diệu đó chính là bởi tinh thần dân tộc, bởi tinh thần hi sinh cho cái chung", ông nói.
Vì thế, khi mà tinh thần dân tộc và yêu nước nước khơi gợi một cách hợp lý thì không có lý do gì mà dân quay lưng lại với chính phủ.
"Và tại rất nhiều quốc gia châu Âu, tôi không chắc là nhiều người dân được tuyên truyền một cách thiết thực về cuộc khủng hoảng. Họ chỉ được đọc thông tin trên báo chí. Mà đó chỉ là một sự hỗn tạp. Có rất nhiều cuộc thảo luận về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng, hay ai là người chịu trách nhiệm. Những tất cả chỉ là một mớ lộn xộn, ầm ĩ và vô nghĩa. Còn đối với người Hàn Quốc, không có chỗ cho cái gọi là sự ầm ĩ", ông nói.
Bài học cho châu Âu
Một nhân tố khác, theo ông Mr Breen, đó là một xã hội thịnh vượng. Người Hàn Quốc đã không có quá nhiều thứ để dựa vào trong cuộc khủng hoảng tài chính và vì thế họ hiểu được ý nghĩa thực sự.
Thậm chí ngay cả bây giờ, Hàn Quốc vẫn không hề hấn trước những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khu vực đồng Euro. Đây là nền kinh tế xuất khẩu và châu Âu là khách hàng lớn nhất.
Choi Gwang-ja nói, bà không hiểu tại sao người châu Âu lại phản ứng quá khác trước nguy cơ phá sản. "Tôi biết cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Âu có khác so với Hàn Quốc trước kia nhưng nếu như họ đồng lòng giống như chúng tôi đã từng làm thì họ có thể đã vượt qua".
"Bất kỳ một đất nước nào cũng có thể làm được điều đó nếu như có một phong trào quốc gia kêu gọi và tập hợp lòng dân. Hàn Quốc là một nước nhỏ. Gia đình châu Âu thì giàu hơn nhiều chúng tôi, và tôi nghĩ họ có rất nhiều vàng trong nhà".
Trên thực tế thì cuộc vận động hiến trang sức tại Hàn Quốc có ý nghĩa về mặt tinh thần hơn là tài chính. Tuy nhiên, theo ông Breen thì đây cũng là một giải pháp mà châu Âu nên thử.
"Châu Âu đôi khi vẫn hay cho rằng người Mỹ quá lạc quan và đơn giản. Nhưng tiếc là, thực tế người châu Âu cần điều đó".
Mặc dù giờ đây sự đoàn kết, đồng lòng của người dân Hàn Quốc đôi khi hơi khó để cảm nhận. Khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách giữa các thế hệ và giữa các đảng phái chính trị đang gia tăng trên mọi khía cạnh của đời sống. Có thể với cảm nhận của người thì điều này là biểu hiện của sự chia rẽ hơn là đoàn kết.
Xã hội ngày càng thịnh vượng, con người ngày một giàu có và những ký ức về sự nghèo đói dường như đang mờ nhạt dần. Thế nhưng làm thế nào mà Hàn Quốc có thể đối phó được với cuộc khủng hoảng là một câu hỏi mà ngày nay nhiều người đang cố giải đáp. Phải chẳng đó là một bí mật về một sức mạnh thần kỳ?
Hưng Ninh (Nguồn: vef.vn)

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Dự báo giá gold và chiến lược ngày 17.1.2014: Gold có thể tăng 1249,x – 1253,x vào phiên Mỹ



Về TA:
W1 đang cho tín hiệu tăng
D1 nằm trên dải giữa, -DI suy yếu
H4 chuẩn bị vượt dải giữa 1243,52 – tín hiệu tăng rõ, Stoch đang lên, +DI vượt –DI.
Vượt 1243,52 – tín hiệu bull mạnh
Giá mục tiêu khi tăng: 1249,x (chấp nhận) – 1253,63 (lạc quan). Mức này dải trên H4 or thấp hơn 1 chút.
Dự báo phiên Á theo giờ Việt Nam:
6h sáng – 12h30: Gold biến động 1241,x – 1246,x
Phiên Âu:
13h – 18h30: Gold giảm và tích lũy, tức giảm từ 1246,x về 1241,x tích lũy chờ phiên Mỹ
Phiên Mỹ
20h30 – 5h sáng hôm sau: Vào giờ ra tin, Gold sẽ giảm từ 1245,x xuống 1240,x sau đó sẽ bull lên mạnh 1249,x – 1253,x
Tin ngày 17.1.2014 khá nhiều:
20h30: Building Permits
21h55: Prelim UoM Consumer Sentiment
22h: JOLTS Job Openings

Chiến lược:
Buy 1241,x – 1242,x. Take profit: 1249,x – 1253,x.
Dương Văn Kháng