Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

Ðòn kinh tế của Mỹ với Nga

Ðể chiếm lại Crimea đem về cho nước Nga, Putin phải trả giá rất đắt. Năm ngoái, ngân sách chính quyền Crimea được chính phủ Ukraine trợ cấp $850 triệu. Năm tới trở đi, ông Putin sẽ phải chi. Chính phủ ở Kiev cũng chi gần tỷ Mỹ kim trả tiền hưu bổng cho những người lớn tuổi trong vùng Crimea. Mai mốt họ sẽ ngưng trả, lấy lý do vùng này ly khai bất hợp pháp; và họ có thể nêu vấn đề này trong các cuộc mặc cả kinh tế sắp tới với ông Putin.

Crimea hiện nay được Ukraine tiếp tế nước (90%), điện (80%) và hơi đốt (65%). Chính phủ Nga có thể thay chân tiếp tế, nhưng phải mất hàng năm xây dựng hạ tầng cơ sở. Trong ba bốn tháng tới, dân Crimea sẽ thấy một hậu quả trước mắt: Vắng bóng du khách. Năm ngoái, hai triệu dân Crimea được đón tiếp 6 triệu du khách, trong đó hơn 4 triệu là người Ukraine. Cả du khách khác từ Âu Châu, năm nay còn ai muốn đến thăm một xứ bất ổn như vậy nữa? Phải mất nhiều năm số du khách Nga mới đến thay thế được. Trong mấy năm tới ông Putin sẽ phải chi mỗi năm vài tỷ Mỹ kim để nuôi vùng Crimea.

Nhưng đó không phải là hậu quả kinh tế quan trọng nhất của hành động “tái nhập Crimea” vào nước Nga. Các chính phủ Mỹ và Châu Âu sẽ đưa ra những đòn phong tỏa, trong một cuộc chiến tranh lạnh diễn ra trên mặt trận kinh tế. Ông Putin đã và sẽ trả đũa, hai bên sẽ ghìm nhau, chờ phản ứng của bên kia trước khi leo thang. Cuộc chiến tranh lạnh kinh tế sẽ diễn ra từ từ, từng bước một, Obama cấm visa một số nhân vật Nga thì Putin cũng cấm một số người Mỹ. Obama phong tỏa một số xí nghiệp và ngân hàng Nga thì Putin cũng đáp lại tương xứng. Hai bên sẽ gờm gờm nhìn nhau, chiến tranh lạnh có thể kéo dài hai, ba năm hoặc lâu hơn.

Phong tỏa kinh tế có khi hiệu quả, có khi không; mà chắc chắn cả hai bên đều gây thiệt hại cho nhau. Trong cuộc đấu sức, bên nào dai sức, chịu đựng được lâu hơn, thì cuối cùng sẽ thắng thế. Hiện nay, kinh tế Nga đang trong cơn suy yếu; trong khi kinh tế Âu Châu và Mỹ đang bắt đầu hồi phục; cho nên nếu hai bên cứ tiếp tục leo thang thì chắc Nga sẽ đuối. Nhớ lại, Iran bắt đầu bị Châu Âu phong tỏa kinh tế từ năm 2012; sau khi Mỹ đã bắt đầu trước; với cách không mua dầu lửa, phong tỏa trương mục ngân hàng của các công ty và đại gia Iran ở ngoại quốc, chưa đầy hai năm Iran đã chịu không nổi, vì năm ngoái tổng sản lượng của Iran giảm 6%, trong khi lạm phát lên gần 40%. Trước đây, Iran là nước xuất cảng dầu thô nhiều thứ tu trên thế giới.

Tuần tới, Tổng Thống Obama sẽ gặp thủ lãnh các nước kinh tế hàng đầu G-7 (Nga đứng hàng thứ tám, không được mời). Ông Obama sẽ đề nghị những biện pháp phong tỏa đồng loạt và mạnh hơn. Các nước Âu Châu sẽ dè dặt, vì họ ràng buộc với Nga chặt chẽ. Cho nên, khi Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden sang thăm các nước Ba Lan và ba nước miền Baltic tuần rồi, tất cả mới thoát ách “đô hộ” của Nga từ năm 1990, nhưng cả bốn nước đều dè dặt không muốn bàn vấn đề phong tỏa kinh tế Nga bây giờ. Ba nước vùng Baltic, cũng như Thụy Ðiển, Phần Lan, nhập cảng 100% hơi đốt sử dụng từ Nga; còn Ðức, Ba Lan cũng tùy thuộc từ 40% đến 60%.

Nhưng khi nói ràng buộc, chúng ta phải hiểu bao giờ cũng có hai chiều, tôi bị ràng buộc với anh nghĩa là anh cũng bị ràng buộc với tôi. Nếu Nga ngưng xuất cảng dầu lửa và hơi đốt sang Âu Châu thì kinh tế sẽ nghẹt thở, vì sẽ mất một số khách hàng quá lớn. Trong năm 2012 dầu và hơi đốt chiếm 70% số hàng xuất cảng của Nga, và cung cấp 52% ngân sách của chính phủ Nga. Liên Hiệp Âu Châu (EU) bán 169 tỷ đô la hàng hóa sang Nga, nhưng một nửa hàng hóa Nga xuất cảng bán sang Châu Âu (gần 300 tỷ đô la Mỹ), là 15% Tổng Sản lượng nội địa (GDP) gần hai ngàn tỷ đô la của nước Nga.

Ông Obama được tự do, có thể tấn công ông Putin mạnh hơn, vì quan hệ kinh tế Mỹ với Nga không quá chặt chẽ. Trong số các nước bán hàng cho dân Mỹ xài, nước Nga, với số nhập cảng 27 tỷ Mỹ kim, đứng hàng thứ 20. Nhưng Mỹ là nước đứng thứ năm trong số các nước bán hàng cho Nga, dù số thương vụ chỉ có 11 tỷ Mỹ kim. Cho nên nếu ông Obama leo thang mà ông Putin trả đũa đến cùng, chỉ một số công ty Mỹ bị thiệt hại, nhiều nhất là Boeing, Exxon, và Ford Motors.

Nga dễ bị thương tổn nếu cuộc chiến tranh kinh tế kéo dài, vì nền kinh tế Nga tùy thuộc quá nhiều trên việc xuất cảng tài nguyên thiên nhiên; đặc biệt là dầu và hơi đốt. Năm ngoái, tỷ lệ tăng trưởng của GDP chỉ có 1.3%. Sau khi lính Nga không đeo phù hiệu chiếm đóng Crimea, đồng rúp và thị trường chứng khoán Nga tụt giảm mạnh vì người ta đã dự đoán sẽ có phong tỏa kinh tế. Trong ngày 3 Tháng Ba vừa rồi, cổ phần ghi trên thị trường Micex tụt giá, tổng cộng mất 60 tỷ đô la, cao gấp tám lần ngân sách chi cho Thế Vận Hội Mùa Ðông trước đó. Hôm qua, sau khi Mỹ công bố thêm tên những công ty, ngân hàng, và nhân vật bị cấm vận, cổ phiếu của tất cả các công ty liên hệ tới họ đều xuống từ 2 đến 5%.

Việc phong tỏa tài sản các đại gia thân cận của ông Putin không có ảnh hưởng bao nhiêu đến họ, vì họ đã chuẩn bị rút tiền, chuyển tài sản từ các nước Âu Châu, Canada, Úc và Mỹ đi tới những nước an toàn hơn. Ảnh hưởng tai hại lớn là trên toàn thể nền kinh tế, đặc biệt là hệ thống ngân hàng, nếu ông Obama đi thêm bước nữa. Hai công ty thẩm lượng tín dụng, S&P và Fitch, đã cắt điểm tín nhiệm của Nga, một hậu quả là từ nay nhiều xí nghiệp và ngân hàng Nga sẽ vay tiền với lãi suất cao hơn. S&P cũng ước định tỷ lệ tăng trưởng của kinh tế Nga năm nay xuống gần sát với số không, nghĩa là không lên thêm được. Công ty này còn cho biết trong ba tháng đầu năm 2014 các đại gia đã chuyển ra khỏi nước Nga số vốn khoảng 60 tỷ Mỹ kim, cao gần bằng số tiền vốn bỏ chạy trong cả năm 2013.

Những hành động khuấy động rồi chiếm Crimea của ông Putin cũng là một cách làm lạc hướng dư luận dân Nga để họ bớt nghĩ đến nền kinh tế đang suy yếu. Nay mai, ông Putin còn có thể đổ hết trách nhiệm kinh tế suy yếu cho Mỹ và các nước Châu Âu! Kinh tế Nga không suy yếu từ khi có khủng hoảng tại Ukraine, mà đã bắt đầu sẵn từ trước. Khi giá trị đồng rúp tụt xuống vì vụ Crimea, Ngân Hàng Trung Ương Nga lại tăng lãi suất để giữ giá đồng bạc, khiến cho giới kinh doanh Nga càng khó vay tiền hơn. Việc phong tỏa không cho các xí nghiệp và ngân hàng Nga sử dụng đầy đủ hệ thống tài chánh và ngân hàng thế giới sẽ khiến kinh tế Nga càng bị cô lập, khó gây vốn trong thị trường quốc tế. Hiện nay, Châu Âu và Mỹ mới nhắm vào việc phong tỏa các đại gia và cố vấn thân cận của ông Putin, nhưng nếu mở rộng ra các xí nghiệp và ngân hàng lớn thì hậu quả sẽ nặng nề hơn.

Nhưng một “vũ khí” lợi hại nhất mà ông Obama có thể sử dụng là tấn công ngay vào thị trường dầu, khí, nguồn vú sữa đang nuôi sống kinh tế Nga cũng như cả nhóm đại gia “quả đầu” chung quanh ông Putin. Ngày hôm qua, nhật báo Wall Street Journal, đại biểu cho khuynh hướng bảo thủ trong đảng Cộng Hòa, đã thúc giục: “Tổng Thống Obama nên báo hiệu cho thế giới biết ông sẽ tích cực chấm dứt vai trò thống ngự của Nga trên nguồn năng lượng của Châu Âu; bằng cách chấp thuận ngay các dự án xin thiết lập các bến tàu chuyên dùng để xuất cảng hơi đốt.” Các đại biểu Quốc Hội Mỹ, đặc biệt là thuộc đảng Cộng Hòa cũng đang thúc đẩy chính phủ xúc tiến việc xuất cảng dàu, khí sang Châu Âu để giúp các đồng minh thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Nga.

Ðây là biện pháp nguy hiểm nhất, ảnh hưởng lâu dài trên kinh tế cả nước Nga. Nhưng có thể dùng để đe dọa chính quyền Putin ngay bây giờ hay không?

Nước Mỹ hiện nay đã vượt qua Nga để thành quốc gia sản xuất hơi đốt nhiều nhất, và trong dăm năm nữa Mỹ sẽ vượt qua Á Rập Saudi về số sản xuất dầu thô lớn nhất. Ðó là nhờ những phát kiến kỹ thuật khai thác mới ở Mỹ, được phát triển trong vòng dăm năm qua, khoan ống hàng dọc và hàng ngang, dùng sức ép của nước đẩy dầu và khí phun lên. Luật lệ ở Mỹ không cho phép xuất cảng hơi đốt, trừ cho một số nước có hiệp định tự do mậu dịch; ngoài ra muốn xuất cảng đi nước khác phải xin phép. Hơi đốt xuất cảng phải được biến sang thể lỏng, chuyển sang Châu Á hay Châu Âu bằng tàu thủy. Vì vậy, phải xây dựng những “cầu tàu” đặc biệt, là nơi biến hơi đốt ra thể lỏng, có bến đậu an toàn cho loại tàu lớn đến nhận hơi đốt lỏng. Hiện có mấy chục đơn xin lập những cầu tàu như vậy, còn chờ chính phủ Mỹ duyệt xét. Nếu chính phủ Obama tuyên bố sẽ tiến hành việc cho phép nhanh chóng hơn, và cứu xét việc cho phép xuất cảng dầu và khí đốt sang Châu Âu, đặc biệt là sang Ukraine, thì các thị trường dầu, khí, than đá, nói chung các loại năng lượng, sẽ chuyển động ngay!

Tuy nhiên, đây không phải là một mối đe dọa tức thời đối với chính quyền Nga. Hiện nay, Mỹ chỉ có đủ cơ sở và phương tiện có sẵn để bán dầu và hơi đốt cho Ukraine, nếu họ bị Nga đe dọa cắt. Ở Châu Âu đã có sẵn bến cảng tiếp nhận được hơi đốt lỏng ở Tây Ban Nha, một nước không mua dầu, khí của Nga. Những ống dẫn dầu khí nối liền các nước Châu Âu có thể cho chạy ngược chiều, đem hơi đốt từ Tây Âu sang Ukraine hoặc Ba Lan. Mùa Ðông vừa qua không lạnh lắm, cho nên các nước Châu Âu đều còn dư khí đốt dự trữ, đủ dùng hàng năm nữa. Nhưng việc hoàn tất các cầu tầu để đưa hơi đốt lỏng đi, hoặc để đón nhận hơi đốt tới, đều phải kéo dài hai, ba năm hoặc lâu hơn. Ngoài ra, việc xuất cảng dầu, khí sang nước nào là quyết định của các công ty thương mại chứ không phải của chính phủ Mỹ. Hiện nay dầu, khí bán cho các nước Á Châu được trả giá cao hơn ở Châu Âu rất nhiều. Cho nên dù ông Obama có đưa ra một “tín hiệu” như bên đảng Cộng Hòa yêu cầu, thì hậu quả đối với việc Nga cung cấp dầu, khí cho Châu Âu cũng còn lâu mới thành sự thực.

Nói như vậy, nhưng chính quyền Putin cũng khó ngủ yên nếu tín hiệu được đưa ra cho thế giới biết. Giá dầu lửa và hơi đốt khắp nơi sẽ hạ thấp, khi mọi người biết có một nguồn cung cấp lớn từ nước Mỹ sẽ gia nhập thị trường. Năm 2000, khi ông Putin mới lên cầm quyền, ông gặp may vì đúng lúc đó giá dầu lửa bắt đầu tăng lên, lần đầu tiên lên trên 100 đô la một thùng. Nước Nga chỉ đào đất lên lấy dầu và quặng mỏ đem bán là đủ sống. Nhưng vận may này chỉ kéo dài cho tới năm 2008, khi kinh tế thế giới xuống dốc, giá dầu khí và các nguyên liệu cũng xuống theo. Với một nửa ngân sách quốc gia tùy thuộc vào dầu khí xuất cảng, nếu giá dầu xuống thì ngân sách sẽ khiếm hụt nặng nề. Kinh tế cả nước tùy thuộc vào dầu khí, tất cả sẽ bị ảnh hưởng.

Kinh tế Nga sẽ tới lúc đuối sức nếu cuộc chiến tranh lạnh mới kéo dài, nhưng chưa chắc ông Putin đã nhường một bước nào. Trong khi các chính phủ Âu Châu lo làm sao không để cho dân mình nghèo hơn vì chiến tranh kinh tế, thì ông Putin không quan tâm. Ông đã bám chắc ngai tổng thống 2 nhiệm kỳ, trong 10 năm tới, trừ khi ông muốn ngồi hơn! Một nhà bình luận trên hệ thống CNN còn đề nghị các nước Tây phương hãy hô nhau tẩy chay giải bóng tròn thế giới (World Cup) năm 2018 ở Nga, để trừng phạt việc chiếm Crimea. Có lẽ hành động này sẽ làm dân chúng thấy những việc ông Putin làm chỉ gây tổn thương cho uy tín của dân tộc Nga!

Khi ông Obama sang Châu Âu tuần tới, ông sẽ đề nghị khối NATO tăng cường phòng vệ các nước từ Ba Lan lên miền biển Baltic; để các nước khác yên lòng. Nhưng việc đó sẽ giúp ông Putin kích thích tự ái của dân Nga, khiến uy tín của ông lên cao hơn. Nếu trước khi đi ông Obama mạnh dạn công bố dự định bán dầu, khí của Mỹ sang Châu Âu, đồng thời cô lập các ngân hàng Nga trong hệ thống tài chánh quốc tế, rồi phong tỏa các dòng luân lưu rửa tiền của các đại gia Nga, thì hiệu quả có thể nhanh chóng hơn nhiều. Trong suốt thời gian trước và sau cơn khủng hoảng ở Ukraine, ông Obama đóng vai thụ động, chỉ chống đỡ các đòn do ông Putin phóng ra. Ðối với ông Putin thì chiến thuật trả đũa từng bước chỉ chứng tỏ một thế yếu kém. Bây giờ là lúc ông Obama phải đổi thế cờ, tấn công trước, và tấn công một cách toàn diện, dù chỉ trên mặt trận kinh tế.

Ngô Nhân Dụng
Theo Người Việt

Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Bình luận về NQ 15 của Chính phủ về việc một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp



Nghị Quyết ban hành ngày 6-3-2014 với các nội dung chính:
Thứ nhất, việc thoái vốn hoàn thành trước 31-12-2015
Thứ hai, Chính phủ cho phép các ngân hàng thương mại Nhà nước mua lại or NHNN làm đại diện sỡ hưu với trường hợp thoái vốn của DNNN tại các công ty đầu tư tài chính, ngân hàng thương mại
Thứ ba, Chính phủ giao SCIC xem xét, mua lại các khoản đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của các tập đoàn, tập công ty Nhà nước, công ty 100% vốn Nhà nước vào lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng.
Thứ tư, Chính phủ cho phép các doanh nghiệp đầu tư ngoài ngành được thoái vốn dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách sau khi đã trừ khoản dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính
Thứ năm, Chính phủ yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước căn cứ vào tiêu chí phân loại và vai trò với sự phát triển cả ngành để xác định tỷ lệ duy trì nắm giữ vốn nhà nước nhưng không được quá 65%
Ngoại lệ, tại Tập đoàn Bảo Việt và các ngân hàng thương mại cổ phần vẫn phải duy trì tỷ lệ cổ phần Nhà nước nắm giữ ít nhất 65%
Thứ sáu, trường hợp không thực hiện được tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và người liên quan sẽ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ
Quan điểm của người viết:
Qua nghị quyết 15 thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp với mục đích:
Thứ nhất, khi bán vốn nhà nước ở giá cao thì ngân sách nhà nước tăng thêm, dùng tiền này để trả bớt nợ công vì nợ của doanh nghiệp nhà nước nhiều
Thứ hai, có nguồn vốn của các ông trùm tài phiệt  mua cổ phần của nhà nước bán, các ông trùm này sẽ tăng quyền sở hữu của mình trong các lĩnh vực của nhà nước. Các ông trùm này có thể là người trong nước hoặc các chủ nợ của Việt Nam
Để người và người bán hài lòng trong trung và dài hạn, thị trường chứng khoản phải tăng mạnh 2014-2016 (HOSE có thể lên 850-900 điểm vào 2015) vì người bán sẽ bán được giá tốt, người mua sẽ mua được giá rẻ khi định giá trung 5-10 năm với cổ tức ngon.
Dương Văn Kháng

PVX tăng lên 6 vào tháng 3 và lên 7 vào tháng 4.2014 với nhiều tin tốt hỗ trợ



Bất cứ một cổ phiếu nào tăng đều có lý do và mục đích tăng. Người viết dự báo PVX tăng lên như kế hoạch là vì: đề án tái cấu trúc PVN, dòng tiền lớn chọn PVX
Yếu tố tin tức hỗ trợ PVX tăng:
Hiện vốn nhà nước đang đầu tư vào PVX khá nhiều, mà toàn mua giá cao, giá nhà nước đầu tư lớn hơn 10. PVX còn đầu tư ngoài ngành khoảng 5.000 tỷ đồng, mục tiêu đến 2015 sẽ thoái vốn xong tại các lĩnh vực ngoài ngành
Trong đề án tái cấu trúc PVX, lưu ý 2 mục tiêu:
Thứ nhất,thoái vốn đầu tư ngoài ngành của PVX phải bảo toàn nguồn vốn nhà nước, không thua lỗ. Chẳng hạn, trước đây nhà nước góp vốn vào PVX 3.000 tỷ với giá cổ phiếu lúc đó 12, PVX lấy vốn này đi đầu tư ngoài ngành, ví dụ mua cổ phiếu PVL, hoặc cổ phiếu công ty con giá lúc đó lớn hơn 10. Tính thêm cổ tức thì nếu nhà nước thoái vốn giá hiện tại của PVX 4,6 thì xác suất lỗ rất cao, như thế không đạt được mua tiêu đề án tái cấu trúc. Theo người viết, PVX phải lên 10-12 năm 2015 thì nhà nước thoái vốn mới lời.
Thứ hai,xây dựng tập đoàn PVN (trong đó gồm cả PVX) trở thành doanh nghiệp nhà nước chủ lực, trụ cột kinh tế nhà nước. Điều này ý nói về tình hình tài chính của PVX mạnh, minh bạch, lợi nhuận nhiều, do đó năm 2014-2015 sẽ dành ưu đãi rất nhiều cho PVX, ví dụ các dự án lớn, vốn vay ưu đãi, xóa nợ cũ, thoái vốn công ty con,… đều được ưu tiên số 1.
Yếu tố dòng tiền qua phân tích kỹ thuật:

Khi cổ phiếu muốn tăng mạnh thì phải có giai đoạn gom hàng đều đều với dòng tiền lớn vào và chưa cho giá cổ phiếu tăng.
Khối lượng trung bình 1 ngày giao dịch của PVX 8-9 triệu cổ phiếu cao hơn cách đấy 2-3 tháng chỉ có 2-3 triệu cổ phiếu/phiên.
Giá tích lũy 4-4,6 khoảng 1 tuần, khá lâu, có thể từ ngày 10-14.3.2014 PVX sẽ bứt phá với khối lượng lớn và hướng giá mục tiêu
Bước 1: PVX tăng lên 5,9 – 6 vào cuối tháng 3.2014
Bước 2: PVX tăng lên 6,9 – 7,1 vào cuối tháng 4.2014
Các tin tốt sẽ được báo chí bơm ra vào tháng 3-4.2014 như sau:
Trúng thấu các dự án lớn
Thoái vốn một vài công ty con
Các ngân hàng sẽ hỗ trợ vốn vay lớn cho PVX
Đặc biệt, báo cáo quý 1.2014 của PVX sẽ vào tháng 4.2014, dự kiếm lợi nhuận sau thuế quý 1 khoảng 80 – 160 tỷ VND
Dương Văn Kháng

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Thuyết âm mưu trong việc dự báo kinh tế-chính trị toàn cầu năm 2014 – 2018 (Phần 3)

Phần 2: xem chi tiết:



Phần 3: Kinh tế thế giới 2013 - 2018



I.       Kinh tế thế giới 2013-2018
Số liệu GDP thế giới và các từ năm 2008-2013 và dự báo 2014 (%)

2008
2009
2010
2011
2012
2013
F 2014
Thế giới
1.5
-2.1
4.1
2.9
3.1
3
3.7
Mỹ
-0.3
-2.8
2.5
1.8
2.8
1.9
2.8
Nhật
-1.1
-5.5
4.7
-0.6
1.4
1.7
1.7
Trung Quốc
9.6
9.2
10.4
9.3
7.7
7.7
7.5
Anh
-0.8
-5.2
1.7
1.1
0.3
1.7
2.4
Đức
0.8
-5.1
3.8
3.4
0.9
0.5
1.6
Pháp
-0.1
-3.1
1.7
2
0
0.2
0.6
Ấn Độ
3.9
8.5
10.5
6.4
3.2
3.8

Nga
5.2
-7.8
4.5
4.3
3.4
1.5
2
Hàn Quốc
2.3
0.3
6.3
3.7
2.1
2.8

Argentina
6.7
0.8
9.2
8.9
1.9
3.4

Hong Kong
2.1
-2.4
6.8
4.8
1.5
2.9

Singapore
1.7
-0.8
14.8
5.2
1.3
3.5

(Số liệu IMF)
1.      Hoa Kỳ: Chính sách Obama trong nhiệm kỳ 2013 – 2016 cũng chính là mục tiêu của các ông trùm
Số liệu kinh tế Hoa Kỳ năm 2013:
Năm 2013, nền kinh tế Mỹ chỉ tăng trưởng ở mức 1.9%, ít hơn con số 2.8% của năm 2012.
Ðộng lực chính giúp đẩy mạnh phát triển kinh tế trong ba tháng cuối của năm 2013 là nhờ vào mức gia tăng 3.3% trong chi tiêu của người dân Mỹ, cao hơn nhiều so với mức 2% trong quý 3. Sự chi tiêu của người dân là điều đặc biệt quan trọng vì chiếm khoảng 70% trị giá của nền kinh tế Mỹ.
Thâm hụt thương mại của Mỹ giảm trong năm 2013 do xuất khẩu tăng lên mức kỷ lục. Bộ Thương mại Mỹ cho biết thâm hụt thương mại giảm 63,1 tỷ USD xuống 471,5 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ năm 2009. Xuất khẩu cả năm đạt 2,3 nghìn tỷ USD, mức kỷ lục mới trong năm thứ tư liên tiếp.
Nền kinh tế Hoa Kỳ đem lại khoảng 113.000 việc làm trong tháng Một, tháng thứ hai liên tiếp thống kê việc làm được cho là yếu hơn dự đoán.
Tỷ lệ thất nghiệp tháng 1.2014 đã giảm xuống 6,6%, mức thấp nhất kể từ tháng 10 năm 2008.
Văn phòng Ngân sách của Quốc hội Mỹ (CBO) dự báo mức thâm hụt ngân sách tổng cộng sẽ là 514 tỷ USD trong tài khóa 2014, so với con số 680 tỷ USD của tài khóa 2013 và mức cao kỷ lục 1,4 nghìn tỷ USD trong tài khóa 2009. Mức thâm hụt của năm nay sẽ tương đương với 3% GDP, gần ở mức trung bình trong suốt 40 năm qua.
Trong năm nay, thu ngân sách liên bang dự kiến tăng 9%, đạt 3.000 tỷ USD (tương đương 17,5% GDP), còn chi có thể tăng 2,6%, lên 3.500 tỷ USD (tương đương 20,5% GDP).
Thâm hụt ngân sách lớn trong những năm gần đây đã làm tăng đáng kể nợ của liên bang và tỷ lệ nợ trên quy mô nền kinh tế hiện ở mức rất cao trong lịch sử là 17,3 nghìn tỷ USD.
Về tình hình nền kinh tế Mỹ, sau giai đoạn phục hồi chậm kể từ sau cuộc suy thoái năm 2009, CBO nhận định kinh tế nước này sẽ tăng vững chắc trong năm 2014 và 5 năm tới.
Chính sách Obama về kinh tế
Thứ nhất, tạo ra thêm hàng triệu việc làm mới cho dân Mỹ bằng cách sử dụng chính sách thuế ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp dịch chuyển sản xuất về Mỹ, khuyến khích tăng sản lượng hàng hóa "Made in America".
Thứ hai, tăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu, giảm 50% nhập khẩu năng lượng từ này đến năm 2020 bằng cách phát triển khí đốt và năng lượng
Thứ ba, giảm thâm hụt ngân sách. Obama chủ trưởng giảm thâm hụt 4.000 tỷ USD trong 10 năm. Các biện pháp để đạt mục tiêu này gồm 2.000 tỷ USD đang trong kế hoạch tiến hạnh, khoảng 1.500 tỷ USD có được từ tăng thuế người giàu và không giảm thuế bất hợp lý cho doanh nghiệp cộng với 850 tỷ USD tiết kiệm sau khi rút quân khỏi Iraq và Afghanistan.
Số liệu xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ tham khảo
Vào tháng 1-2009, mỗi tháng có 700.000 lao động mất việc. Tỉ lệ thất nghiệp lên đến 10%. Đến tháng 12-2013, tỷ lệ thất nghiệp còn 6,7%, mỗi tháng có khoảng 200.000 lao động mất việc. Cho thấy chính sách Obama đã tạo ra nhiều việc làm như đã hứa
Ngay cả khi điều chỉnh theo mức lạm phát, các hộ gia đình Mỹ cuối cùng cũng đã có những sự cải thiện bằng với mức trước cuộc khủng hoảng tài chính. Nếu điều chỉnh theo mức lạm phát, giá trị tài sản hộ gia đình Mỹ trong quý thứ III của năm 2013 lên tới 71,93 nghìn tỷ USD, cao hơn đôi chút so với quý I năm 2007, với sự gia tăng 0,7% của giá trị tài sản thực ròng 71,42 nghìn tỷ USD. Điều đó có nghĩa các hộ gia đình Mỹ đã tự mình ra khỏi cuộc Đại suy thoái, ít nhất trong đánh giá tổng thể.
Năm 2009, giá trị xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của Hoa Kỳ đạt 1.570 tỷ USD, giá trị nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khoảng 1.945 tỷ đồng, thâm hụt thương mại khoảng 375 tỷ USD.
Tính từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2013, giá trị xuất khẩu hàng hóa 2.079 tỷ USD, giá trị nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khoảng 2.514 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc 11 tháng năm 2013 với giá trị khoảng 402,8 tỷ USD; từ Châu Âu với giá trị khoảng 423 tỷ USD; từ Canada khoảng 305,3 tỷ USD, từ Mexico 258,3 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Trung Quốc 11 tháng năm 2013 khoảng 108,9 tỷ USD, Châu Âu khoảng 301,6 tỷ; Canada khoảng 277 tỷ USD, Mexico khoảng 208,1 tỷ USD
Kết luận:
Các ông trùm đã thực hiện được mục tiêu tạo hàng triệu việc làm cho dân Mỹ, còn mục tiêu hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, kêu gọi giới đầu tư các nước vào Mỹ để đầu tư, sản xuất hàng hóa vẫn đang thực hiện trong năm 2013 – 2016, đây cũng chính là lý do ra đời hiệp định TPP. Người viết sẽ phân tích rõ trong các phần tiếp theo
2.      Trung Quốc: bong bóng bất động sản sắp vỡ
a.       Số liệu kinh tế vĩ mô năm 2013 và dự báo 2014

Tổng Cục thống kê Trung Quốc (NBS), trong năm 2013, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã đạt mức tăng trưởng 7,7%, vượt mục tiêu 7,5% do chính phủ đề ra. GDP của Trung Quốc đạt 9.310 tỷ USD. Trung Quốc đã tạo được hơn 10 triệu việc làm mới, trong khi lạm phát giữ ở mức 2,6%.

Chủ nợ Trung Quốc đã tăng thêm 12,2 tỷ USD trái phiếu kho bạc tính đến cuối tháng 11/2013, đạt mức cao chưa từng có là 1.317 tỷ USD. Số liệu này vừa được Bộ Tài chính Mỹ công bố giữa tháng 1-2014.

Số liệu mà Bắc Kinh công bố mới đây cho thấy, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tính đến cuối tháng 12-2013 đạt mức kỷ lục 3.820 tỉ USD, cao hơn dự trữ ngoại hối của bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới từ trước đến nay. Kim ngạch ngoại thương năm 2013 vượt 4.000 tỷ USD.
b.      Quá trình hình thành bong bóng bất động sản Trung Quốc:
Quá trình xảy ra bong bóng bất động sản: theo công trình nghiên cứu của nhà kinh tế vĩ đại Hyman Minsky, Kindleberger đã vạch ra 5 giai đoạn của một bong bóng hoàn chỉnh, Kháng ứng dụng 5 giai đoạn này vào bong bóng bất động sản Trung Quốc từ 2008 - 2015
Giai đoạn 1: Hình thành bong bóng
Bong bóng có thể xuất hiện thông qua một số biến cố cơ bản của nền kinh tế.
Bong bóng bất động sản Trung Quốc vỡ trong tương lai có thể là kết quả của gói kích cầu 4.000 tỷ Nhân dân tệ (công bố tháng 11/2008), ước tính 586 tỷ USD (khoảng 15% GDP) theo tỷ giá năm 2008, tức là bơm tiền với lãi suất thấp vào thị trường
Gói kích cầu nhằm vào chương trình tái thiết hệ thống cơ sở hạ tầng khổng lồ (xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông, nông thôn, tái thiết sau động đất); phần còn lại nhằm vào cải thiện công nghệ, xây dựng nhà ở, cải thiện hệ thống y tế, năng lương và môi trường.
Tận dụng gói kích cầu này, dòng tiền đã chạy vào lĩnh vực bất động sản. Trong 11 tháng năm 2008, Chính phủ đã rót vào lĩnh vực bất động sản 387,5 tỷ USD (2.700 tỷ Nhân dân tệ) trong đó có 280 triệu USD trong gói kích cầu chung của Chính phủ.
Giai đoạn 2: Tăng vọt
Phần lớn dòng vốn kích cầu chảy vào lĩnh vực xây dựng và bất động sản, khiến thị trường bất động sản Trung Quốc bắt đầu xuất hiện một đợt đầu cơ mới.
Chính phủ ban hành một loạt chính sách kích thích sự phát triển của thị trường bất động sau như: Giảm lãi suất cơ bản 5 lần trong năm 2008.
Năm 2010, ban hành chính sách xóa bỏ hạn chế vay tín dụng mua nhà của cư dân và doanh nghiệp.
Năm 2012, hai lần hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạ thấp sàn lãi suất cho vay đối với lĩnh vực cầm cố, thế chấp nhà ở, cho vay đối với các gia đình cần mua nhà ở mới,…
Tỷ lệ đòn bẫy tài chính của Trung Quốc đã tăng từ mức 127% GDP lên mức 150% GDP năm 2010 và năm 2012 lên 190% GDP. Cho vay với quy mô lớn và các tiêu chuẩn vay được hạ thấp đã làm gia tăng nợ xấu.
Năm 2010-2011, giá bất động sản Trung Quốc tăng vọt, đặc biệt là ở các thành phố lớn giá đã tăng hơn 120% so với năm 2009
Giai đoạn 3: Phấn khích
Các doanh nghiệp bất động sản xây dựng ngày càng nhiều dự án căn hộ chung cư, tòa nhà cho thuê vì tin rằng nhu cầu sẽ còn cao trong các năm tới, họ tạo cầu ảo để kích giá lên cao
Người dân, nhà đầu tư thấy nhiều người giàu lên nhờ bất động sản nên nôn nóng, mua theo giá cao, mua trong cơn sốt đất và tin giá bất động sản còn lên nữa.
Giá bất động sản ở vùng đỉnh theo kéo dài rất ngắn (khoảng 3-6 tháng). Lượng tiền đổ vào bất động sản trong giai đoạn này (2010-2011) rất nhiều từ nguồn vay nóng lãi suất chợ đen, lãi suất cao từ các tổ chức tài chính,…nguy cơ vỡ nợ rất cao
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel kinh tế 2013 Robert Shiller trong một chuyến thăm Thâm Quyến cũng khẳng định bong bóng bất động sản tại Trung Quốc đang là vấn đề nghiêm trọng.
Theo tính toán của ông Shiller, người dân tại các thành phố lớn của Trung Quốc như Thâm Quyến, Thượng Hải đang phải mua nhà với giá bằng 8 – 10 lần thu nhập hàng năm, một mức cao không thể chấp nhận được. Và việc mọi người vẫn muốn mua một căn hộ hầu hết chỉ do họ kỳ vọng giá sẽ còn tăng tiếp.
Giai đoạn 4: Khủng Hoảng dự kiến 2015-2016
Trong giai đoạn khủng hoảng, những người tham gia bắt đầu công cuộc bán tháo của mình.
Nhiều chủ đầu tư, dự án bắt đầu bán tháo các bất động sản vì nợ vay đến hạn trả mà không có tiền. Các ngân hàng cho doanh nghiệp vay thì mang nợ xấu nhiều, khát tiền mặt.
Nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi dự án bất động sản, ngân hàng của Trung Quốc, làm sụt giá bất động sản, ngân hàng thì vỡ nợ
Vào tháng 3/2012, Citigroup cũng bán toàn bộ cổ phần tại ngân hàng Shanghai Pudong Development Bank sau 9 năm đầu tư vào ngân hàng này. Bank of America bán 10,4 tỷ USD cổ phiếu tại Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc hồi tháng 11/2011 và thu về lợi nhuận 1,8 tỷ USD.
Vào tháng 5/2013, Goldman Sachs vừa thông báo kết thúc 7 năm đầu tư vào Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC). Ngân hàng đến từ nước Mỹ sẽ bán toàn bộ số cổ phần hiện có giá trị thị trường là 1,1 tỷ USD tại ICBC.
Vào đầu tháng 6/2013, Everbright - ngân hàng lớn thứ 11 trên toàn quốc tuyên bố mất khả năng thanh toán khoản nợ đáo hạn gần 1 tỷ đô-la. Đầu tháng 6/2013, Ngân hàng Everbright của Trung Quốc bị phá sản vì không thanh toán nổi một khoản nợ đáo hạn trị giá tương đương với 980 triệu đô-la.
Khoảng 64% triệu phú Trung Quốc mang theo tài sản của họ di cư hoặc có ý định di cư sang nước ngoài, theo báo cáo của Hurun, một công ty chuyên nghiên cứu về sự giàu có ở Trung Quốc cho biết 1/3 người siêu giàu của Trung Quốc có tài sản từ 16 tỷ đô trở lên đã di cư sang nước ngoài.
Mỹ là điểm đến đầu tiên của họ mà bất kỳ đại lý bất động sản nào tại San Francisco, Seattle, hay New York có thể xác nhận được. Châu Âu là điểm đến ưa thích thứ hai của họ sau đó là Canada, Australia, Singapore và Hong Kong.
Giai đoạn 5: Khiếp sợ
Giai đoạn cuối, giá bất động sản sụt giảm mạnh, có thể giảm về mức thấp hơn giai đoạn bắt đầu.
Nhà đầu tư sẽ mất rất nhiều tiền sau bong bóng bất động sản Trung Quốc. Dự kiến sẽ xảy ra năm 2017 - 2018
c.       Trung Quốc cải cách như thế nào:
Các nhà chức trách Trung Quốc đã bắt đầu hành động và tổ chức kiểm toán khẩn cấp. Và hiện giờ Trung Quốc đang cố gắng giải quyết vấn đề nợ tồn đọng. Đồng thời, nền kinh tế Trung Quốc có đủ nguồn lực và dự trữ vàng đủ lớn, kim ngạch ngoại thương năm 2013 vượt 4.000 tỷ USD.
Trung Quốc sẽ không cho phép xảy ra khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính. Trước hết, không giống như các nước nhỏ khác, nợ của Trung Quốc không lớn và vẫn có thể gia tăng. Thứ hai, sự hiện diện của Nhà nước trong nền kinh tế với nguồn lực to lớn đang đóng một vai trò đáng kể.
Trong tháng Giêng, Trung Quốc hủy bỏ lệnh cấm các công ty tư nhân tổ chức IPO để thu hút đầu tư cho sự phát triển của mình và để không còn phải vay tiền ngân hàng. Chính quyền Trung Quốc đã thay đổi các quy tắc chính của luật chơi. Các khoản nợ lớn từ các thành phố và các công ty đã nổi lên do chính phủ đòi hỏi bằng mọi giá phải đạt hiệu quả tăng trưởng mong muốn
Hội nghị Trung Ương lần thứ 3 khóa 18 diễn ra từ ngày 9 -12.11.2013 với các nội dung cơ bản về cải cách kinh tế:
Tiêu điểm của việc tái cấu trúc hệ thống kinh tế... là cho phép (các lực lượng) thị trường đóng một “vai trò quyết định” trong việc phân phối tài nguyên.
Lần đầu tiên, Đảng cũng nói rằng khu vực tư nhân phải được đối xử bình đẳng với các doanh nghiệp nhà nước. “Cả hai khu vực công và tư đều là thành phần quan trọng của thị trường xã hội chủ nghĩa và là cơ sở quan trọng của nền kinh tế và sự phát triển xã hội của quốc gia”.
Thiết lập các quy tắc thị trường mở và minh bạch; để cho thị trường đóng vai trò chủ yếu trong việc định giá. Thiết lập một thị trường thống nhất về xây dựng đất đai ở đô thị và nông thôn; cải tiến hệ thống tài chính; đưa cuộc cải tổ trong các khu vực khoa học và công nghệ vào chiều sâu.
3.      Nhật Bản:
Từ năm 1990 đến 2012, kinh tế Nhật Bản vẫn trong tình trạng giảm phát, khả năng cạnh tranh của khối doanh nghiệp suy giảm.
Đồng yên tăng giá so với USD và nằm trong khoảng quanh 1 USD = 75 - 83 JPY trong năm 2010 - 2012 và sự tăng trưởng của Trung Quốc, làm hàng xuất khẩu của Nhật Bản kém cạnh tranh so với các nước.
Chủ tịch đảng Dân chủ Tự do (LDP) Shinzo Abe làm thủ tướng thứ 96 của Nhật Bản vào ngày 26/12/2012
Ngày 11/1/2013, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe công bố gói kích thích kinh tế lên tới 20,2 nghìn tỷ Yên (226,5 tỷ USD), sẽ có 11,3 nghìn tỷ Yên do chính quyền trung ương cấp nhằm kích thích kinh tế và trợ cấp hưu trí. Phần còn lại do chính quyền các địa phương và khu vực kinh tế tư nhân góp sức. 
Mục tiêu đưa kinh tế Nhật vượt ra khỏi tình trạng giảm phát triền miên. Cụ thể là tạo ra 600.000 việc làm mới và đưa GDP tăng 2%. Cả năm 2013, GDP Nhật Bản tăng 1,7%
“Ba mũi tên” trong chính sách kinh tế của ông Abe: nới lỏng chính sách tiền tệ, tăng chi tiêu công và áp dụng những biện pháp nhằm kích thích tăng trưởng, trong đó chú trọng đầu tư vào khu vực tư nhân nhằm chấn hưng nền kinh tế đang trượt dài trong trì trệ.
Gói kích thích chi tiêu lớn này cũng làm dấy lên những lo ngại về tình hình sức khỏe tài khóa của Nhật, vốn đã trong tình trạng thâm hụt nặng nhất trong số các nước công nghiệp phát triển. Hiện nợ công: 11.059,35 tỷ USD, tỷ lệ nợ công/GDP là 204,9%
Năm 2013, thâm hụt thương mại của Nhật Bản đạt 11.470 tỷ yen (tương đương 112,07 tỷ USD), tăng 65,3% so với mức thâm hụt 6.940 tỷ yen năm 2012. 
Giá trị xuất khẩu của Nhật Bản tăng 15%, chỉ đạt 81.260 tỷ yen và đây là tháng thứ tư giá trị nhập khẩu của nước này tăng liên tiếp. Nguyên nhân chủ yếu của tăng kim ngạch nhập khẩu là do khí đốt hóa lỏng tăng 17,5% và dầu thô tăng 16,3%
Giá trị xuất khẩu của Nhật Bản tăng 9,5%, đạt 69.790 tỷ yen. Đây là năm đầu tiên xuất khẩu của Nhật Bản tăng trong 3 năm gần đây.
Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản. Năm 2013, xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc tăng 9,7%, đạt 12.630 tỷ yen; trong khi đó nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 17,4%, đạt 17.650 tỷ yen
4.      Khu vực Châu Âu:
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm 2009 với sự gia tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ai-len, Italia, Hy Lạp và Tây Ban Nha). Hy Lạp là quốc gia đầu tiên bước vào vòng xoáy này, với mức thâm hụt ngân sách đạt tới 13,6% GDP. Nợ công Hy Lạp cũng lên tới 236 tỷ Euro, bằng khoảng 115% GDP của Hy Lạp vào năm 2009. Vào tháng 11-2010, Ai-len chính thức trở thành nạn nhân thứ hai của cơn bão khủng hoảng nợ công khi phải cầu viện Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Bước sang năm 2011, Bồ Đào Nha tiếp tục là quốc gia thứ ba rơi vào khủng hoảng khi tuyên bố mức thâm hụt ngân sách đã lên tới 8,5% GDP, cùng với đó, nợ công cũng đã vượt quá 90% GDP. Italia và Tây Ban Nha mặc dù chưa thực sự rơi vào khủng hoảng, nhưng cũng ở trong vòng nguy hiểm. Thâm hụt ngân sách của Italia vào năm 2011 mới chỉ ở mức 5% GDP, nhưng nợ công đã xấp xỉ 120% GDP. Tây Ban Nha nợ công ở mức 72% GDP, trong khi thâm hụt ngân sách lại rất cao, gần 9% GDP.
Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu:
Do chính sách tài khóa thiếu bền vững và sự mất cân đối trong việc vay nợ của các quốc gia
 Sự hạn chế trong cơ chế phối hợp điều hành trong khu vực sử dụng đồng tiền chung (Eurozone), nhất là giữa tiền tệ và tài khóa. Các quốc gia trong khu vực chủ yếu hợp tác trong các chính sách tiền tệ, nhằm bảo đảm duy trì giá trị đồng Euro, trong khi các chính sách tài khóa lại chưa có được một sự đồng thuận và hài hòa tương ứng.
Việc thiếu cơ chế phối hợp ứng phó giữa các quốc gia trong khu vực. Hầu hết các quốc gia đều cố gắng thực hiện những chính sách của riêng mình và khi không thể giải cứu được nền kinh tế mới nhờ đến sự viện trợ của EU và IMF, mà không hề có những cảnh báo sớm với một chiến lược xử lý về dài hạn được đưa ra.
Giải quyết cứu vãn tình hình:
Ngày 11/7/2011, Eurozone thống nhất thành lập Cơ chế Ổn định châu Âu (ESM) nhằm cứu trợ các nền kinh tế trong khu vực thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công. Sau gần 1 năm ra đời thì đến tháng 12/2012, ESM mới chính thức được vận hành.
 Châu Âu thực sự có hy vọng khi ông Mario Draghi – Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) điều chỉnh chính sách: (i) Cắt giảm mạnh lãi suất đồng Euro từ 0,75%/năm xuống còn 0,5% từ tháng 4/2013 và sau đó hạ tiếp còn 0,25%/năm ngày 7/11/2013; (ii) Mua trái phiếu của các chính phủ gặp khó khăn về nợ công; (iii) Cung ứng tiền giá rẻ cho các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản một cách trực tiếp mà không cần phải thông qua chính phủ…
Với những thay đổi lớn trong chính sách và biện pháp giải cứu, châu Âu đã vượt qua khủng hoảng nợ công và loại bỏ nguy cơ đổ vỡ khối Eurozone trong quý IV/2013 hoặc trong quý I/2014
Khu vực Eurozone cũng đang cho thấy dấu hiệu của sự phục hồi. Các số liệu được công bố vào hôm thứ 3 (14/1) cho thấy sản xuất công nghiệp của khu vực Eurozone tháng 11 tăng mạnh nhất trong gần 4 năm qua
Kinh tế Đức

Đức-nền kinh tế trụ cột của khu vực Eurozone, khiến các nhà đầu tư thất vọng khi tăng trưởng kinh tế năm 2013 đạt 0,4%, thấp nhất kể từ năm 2009.

Mặc dù có xu hướng tăng trưởng thấp, nhưng các số liệu kinh tế lại rất tích cực như tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp…Tiêu dùng cá nhân vẫn tiếp tục có xu hướng tăng và đầu tư cũng có những dấu hiệu của phục hồi
Các đơn đặt hàng công nghiệp tăng mạnh, hàng tồn kho thấp và thị trường lao động ổn định là những dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế Đức
Chỉ số quản lý mua PMI của Đức trước đây đã rất mạnh. Trong tháng Giêng, chỉ số PMI của nước này đã tăng mạnh tới mức cao nhất trong 31 tháng đạt 55,9 điểm, với chỉ số trong ngành sản xuất đạt mức tăng cao nhất trong 32 tháng là 56,3 điểm.
Kinh tế Pháp
Mặc dù nền kinh tế lớn thứ hai Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) này đã thoát khỏi tình trạng suy thoái nhẹ trong quý 2/2013, song hiện đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức như hoạt động sản xuất yếu kém và tỷ lệ thất nghiệp cao.
Bộ trưởng Tài chính Pháp Pierre Moscovici dự kiến thâm hụt ngân sách năm 2013 sẽ vào khoảng 4,1% GDP, cao hơn mức 3,9% GDP đã thỏa thuận với EU, và thâm hụt ngân sách năm 2014 sẽ là 3,6% GDP. Nước này đặt mục tiêu đưa thâm hụt về dưới 3% GDP theo quy định của EU vào năm 2015.
Pháp vẫn đang phải vận lộn để vực dậy nền kinh tế. Chỉ số PMI của Pháp được cải thiện tăng lên đến 48,8 điểm, cao hơn mức dự đoán trước đó.
Theo chuyên gia nghiên cứu Jack Kennedy của Markit, “Điểm yếu của khu vực tư nhân trong nền kinh tế Pháp đã tồn tại từ Tháng Một, khi sản lượng sản xuất giảm dù tỉ lệ giảm là nhỏ. Tuy nhiên nền kinh tế Pháp sẽ phải đối mặt với việc các đơn hàng ngày càng giảm, vấn đề việc làm và các công việc còn tồn đọng.
Kinh tế Anh
Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), kinh tế Anh tăng trưởng 1,7% trong năm 2013 và sẽ tăng 2,4% trong năm 2014
Anh đã đạt được sự tăng trưởng vững chắc trong sản xuất công nghiệp nhưng lại có vẻ khiêm tốn trong doanh số bán lẻ và chưa có nhiều biến chuyển trong ngành xây dựng.

Ngày 6/1, Bộ trưởng Tài chính Anh George Osborne tuyên bố Chính phủ Anh sẽ tiếp tục thi hành chính sách kinh tế "thắt lưng buộc bụng" trong năm 2014 nhằm giảm nợ công và thâm hụt ngân sách

IMF nói Anh được hỗ trợ bởi điều kiện tín dụng “dễ thở” hơn và niềm tin kinh doanh cải thiện
IMF dự báo chính sách kinh tế của chính phủ đang cho thấy hiệu quả.

Dương Văn Kháng