Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

Mỹ nắm bá quyền hay chỉ chiếm ưu thế?

Không quốc gia nào trong lịch sử hiện đại sở hữu nhiều sức mạnh quân sự toàn cầu như Mỹ. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng hiện nay Mỹ đang đi theo bước chân của Vương quốc Anh, bá chủ toàn cầu gần đây nhất, đi vào con đường suy sụp. Dù ngày càng trở nên phổ biến, sự so sánh lịch sử này là sai lầm.

streeter-leckagetty-imagesafp.siAnh chưa bao giờ nổi trội như Mỹ ngày nay. Chắc chắn nó từng sở hữu một lực lượng hải quân có quy mô bằng hai hạm đội hợp lại, và Đế quốc Anh, nơi mặt trời không bao giờ lặn, từng cai trị một phần tư nhân loại. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa các nguồn lực tương đối của Đế quốc Anh và nước Mỹ hiện đại. Khi Thế chiến I bùng nổ, Anh chỉ xếp thứ tư trong số các cường quốc về lực lượng quân đội, thứ tư về GDP, và thứ ba về chi tiêu quân sự.

Đế quốc Anh đã cai trị một vùng đất rộng lớn thông qua sự phụ thuộc vào quân đội địa phương. Trong số 8,6 triệu lính Anh trong Thế chiến I có gần một phần ba đến từ phần đế chế ở hải ngoại. Điều đó khiến chính quyền London ngày càng khó tuyên chiến nhân danh toàn bộ đế chế  khi những tình cảm dân tộc chủ nghĩa bắt đầu gia tăng.

Đến Thế chiến II, việc bảo vệ đế quốc trở thành một gánh nặng hơn là một việc làm có ích. Việc nước Anh nằm rất gần các cường quốc như Đức và Nga càng làm cho các vấn đề trở nên khó khăn hơn.

Bất chấp tất cả những lời nói không chính xác về một “đế quốc Mỹ,” thực tế là Mỹ không có thuộc địa để phải quản lý, do đó nó tự do hành động hơn so với Anh. Và nhờ việc được bao quanh bởi các nước yếu và hai đại dương, Mỹ dễ tự phòng thủ hơn nhiều.

Điều đó đem đến cho chúng ta một vấn đề khác khi so sánh (Anh và Mỹ) trong vai trò bá chủ toàn cầu: sự mập mờ về ý nghĩa thực sự của khái niệm “bá quyền” (hegemony). Một số nhà quan sát đánh đồng khái niệm này với chủ nghĩa đế quốc (imperialism); nhưng Mỹ là minh chứng rõ ràng rằng bá chủ không nhất thiết phải có một đế chế chính thức. Những người khác thì định nghĩa bá quyền là khả năng thiết lập các quy tắc của hệ thống quốc tế; nhưng một bá chủ phải có chính xác bao nhiêu ảnh hưởng đến quá trình này, so với các cường quốc khác, thì vẫn chưa rõ.

Ngoài ra, có một số người cho rằng bá quyền đồng nghĩa với việc kiểm soát các nguồn lực mạnh nhất. Nhưng nếu xét theo định nghĩa này thì nước Anh trong thế kỷ 19 – khi đang ở đỉnh cao quyền lực của mình vào năm 1870, xếp thứ 3 (sau Mỹ và Nga) về GDP và thứ 3 (sau Nga và Pháp) về chi tiêu quân sự – sẽ không thể được coi là bá chủ, cho dù nó đứng đầu về lực lượng hải quân.

Tương tự, những người nói về bá quyền Mỹ sau năm 1945 đã không lưu ý rằng Liên Xô đã cân bằng sức mạnh quân sự với Mỹ trong hơn 4 thập niên. Dù Mỹ có sức mạnh kinh tế vượt trội, sức mạnh chính trị và quân sự của nó đã bị hạn chế bởi sức mạnh của Liên Xô.

Một số nhà phân tích mô tả giai đoạn sau năm 1945 như một trật tự thứ bậc do Mỹ dẫn đầu với các đặc tính tự do, trong đó Mỹ cung cấp hàng hóa công cộng (public goods) trong khi hoạt động trong một hệ thống lỏng lẻo bao gồm các quy tắc và thể chế đa phương vốn giúp các nước yếu hơn có tiếng nói. Họ chỉ ra rằng việc giữ gìn khuôn khổ thể chế này có thể là hợp lý đối với nhiều nước, ngay cả khi nguồn lực của Mỹ suy giảm. Theo đó, trật tự quốc tế do Mỹ dẫn đầu có thể tồn tại lâu hơn ưu thế về các nguồn lực của nó, dù nhiều người khác cho rằng sự xuất hiện của các cường quốc mới báo trước sự sụp đổ của trật tự này.

Tuy nhiên, khi nói đến kỷ nguyên của thứ được cho là bá quyền Mỹ, luôn có rất nhiều giả thuyết lẫn trong sự thật. Nó không hẳn là một trật tự toàn cầu mà giống một nhóm các quốc gia có cùng chí hướng, chủ yếu là ở châu Mỹ và Tây Âu, bao gồm chưa đến một nửa thế giới. Và ảnh hưởng của nó trên các nước không phải là thành viên – trong đó có cả những cường quốc như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và khối Xô-viết – không phải là luôn tốt đẹp. Do đó, vị thế của Mỹ trên thế giới có thể được gọi chính xác hơn là “bán bá quyền” (“half-hegemony”).

Tất nhiên, Mỹ đã duy trì sự thống trị kinh tế sau năm 1945: sự tàn phá của Thế chiến II tại nhiều quốc gia đồng nghĩa với việc Mỹ tạo nên gần một nửa GDP toàn cầu. Vị thế đó kéo dài cho đến năm 1970, khi tỷ trọng của Mỹ trong GDP toàn cầu giảm xuống mức trước chiến tranh, còn một phần tư. Nhưng từ quan điểm chính trị hay quân sự thì thế giới khi đó là lưỡng cực, với Liên Xô cân bằng quyền lực với Mỹ. Thật vậy, trong thời kỳ này, Mỹ thường không thể bảo vệ lợi ích của nó: Liên Xô có được vũ khí hạt nhân; chủ nghĩa cộng sản lên nắm quyền tại Trung Quốc, Cuba, và miền Bắc Việt Nam; chiến tranh Triều Tiên kết thúc trong bế tắc; và các cuộc khởi nghĩa tại Hungary và Tiệp Khắc bị đàn áp.

Trong bối cảnh này, “ưu thế” (primacy) có vẻ là từ mô tả chính xác hơn cho tỉ trọng vượt trội (và có thể đo lường được) của Mỹ về cả ba loại nguồn lực: quân sự, kinh tế, và quyền lực mềm. Câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu có phải thời kỳ ưu thế của Mỹ đang đi đến hồi kết thúc?

Do không thể tiên đoán về sự phát triển toàn cầu nên tất nhiên là không thể trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng. Sự gia tăng của các lực lượng xuyên quốc gia và các chủ thể phi nhà nước, chưa kể đến những cường quốc mới nổi như Trung Quốc, cho thấy có sự thay đổi lớn sắp diễn ra. Nhưng vẫn có lý do để tin rằng, ít nhất là trong nửa đầu thế kỷ này, Mỹ vẫn sẽ giữ được ưu thế của nó về các nguồn lực và tiếp tục đóng vai trò trung tâm trong cán cân quyền lực toàn cầu.

Tóm lại, trong khi kỷ nguyên ưu thế của Mỹ chưa kết thúc, nó sẽ thay đổi theo những cách quan trọng. Những thay đổi này liệu có giúp tăng cường an ninh và thịnh vượng toàn cầu hay không hiện vẫn còn chưa rõ.


Nguồn: Joseph S. Nye, “American Hegemony or American Primacy?” Project Syndicate, 09/03/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Joseph S. Nye là cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ, và là giáo sư tại Đại học Harvard. Gần đây nhất, ông là tác giả của cuốn Presidential Leadership and the Creation of the American Era.

(Nghiên cứu Quốc Tế)

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

TPP chậm trễ vì cách giải quyết chuyện ngoại hối của 2 Đảng: Cộng Hòa và Dân Chủ trong nước Mỹ



Từ năm 2008, Hoa Kỳ phát huy sáng kiến của bốn nước trong vành cung Thái Bình dương từ Châu Á qua Châu Mỹ để mở ra kỷ nguyên tự do mậu dịch giữa các nước trong khu vực. Sau đó, nhiều nước khác tham gia, đáng kể nhất thì có Nhật Bản với nền kinh tế đứng hạng ba thế giới về sản lượng và có sức xuất khẩu rất mạnh. Sau khi nhậm chức vào đầu năm 2009, Tổng thống Barack Obama thúc đẩy sáng kiến này với tiêu chí là hoàn thành vào năm 2011. Từ đó đến nay, Hoa Kỳ cùng Nhật Bản và 10 nước khác là Úc, Brunei, Singapore, Canada, Mexico, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru và Việt Nam đã có 20 vòng đàm phán mà việc chưa xong.
Một trong nhiều trở ngại TPP xuất phát từ nước Mỹ, là đối tác số một vì có thị trường nhập khẩu lớn nhất, là đảng Dân Chủ bên trong Quốc hội Hoa Kỳ có xu hướng bảo hộ mậu dịch và đòi thu hồi thủ tục thương thuyết gọn và nhanh của Hành pháp để họ can thiệp vào tiến trình thương thuyết.
Hoa Kỳ là một nước dân chủ đa nguyên cho nên trong mọi việc thương thuyết làm ăn với nước ngoài thì đều phải tôn trọng quyền lợi của mọi thành phần kinh tế và đấy là một đặc tính đáng chú ý vì giải thích nhiều phản ứng chống đối hoặc ủng hộ các cam kết của quốc gia. Việc đàm phán hiệp định TPP cũng có gặp trở ngại đó với nhiều tiết lộ bên trong tiến trình thương thảo để tác động vào dư luận, chính trường và Quốc hội.
Vì là một thị trường lớn và mở ra ngoài, từ năm 1974, Quốc hội Hoa Kỳ có đạo luật ủy nhiệm cho Hành pháp, tức là Nội các của Tổng thống, quyền đàm phán thương mại với các nước cho đến khi hoàn tất thì trình bày trọn gói cho lưỡng viện Quốc hội biểu quyết với đa số. Đạo luật Phát huy Thương mại ấy lập ra thủ tục thương thuyết nhanh và gọn, gọi là "Fast Track", cứ năm năm lại tái tục một lần. Từ năm 2012, việc tái tục ấy bị đình trệ vì sức cản của đảng Dân Chủnhiều nghiệp đoàn bên trong, làm Chính quyền Obama bị bó tay trong việc thương thuyết.
Sau cuộc bầu cử năm ngoái, đảng Cộng Hòa chiếm đa số tại cả hai viện trên dưới của Quốc hội và có xu hướng truyền thống là phát huy tự do mậu dịch nên sẽ giúp Tổng thống Obama thuộc đảng Dân Chủ có thể vượt qua trở ngại này và sớm hoàn thành trọn gói TPP trong năm 2015 or đầu 2016
Chúng ta nên nhớ một quy luật chung là khi tiền của mình lên giá thì hàng hóa mình bán ra ngoài sẽ có giá cao hơn nên khó cạnh tranh hơn. Ngược lại, khi đồng tiền sụt giá thì hàng của mình rẻ hơn sẽ dễ bán hơn.
Hoàn cảnh trái chiều hiện nay là kinh tế Mỹ tạm hồi phục so với các nền kinh tế Âu, Nhật, China thì đô la lên giá và gây vấn đề cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Hoa Kỳ. Trái lại, vì sản xuất bị trì trệ hoặc suy trầm thì nhiều nước ráo riết bơm tiền kích thích làm tiền nhiều và rẻ sẽ đánh sụt tỷ giá đồng bạc và mặc nhiên giúp cho xuất khẩu. Khi các nước ngoài Hoa Kỳ đều ráo riết hạ lãi suất rồi bơm tiền như vậy thì ta có nạn thi đua phá giá trong tinh thần tranh thủ quyền lợi riêng mà bất kể đến hậu quả cho nước khác. Đấy là trận chiến ngoại tệ vì nhiều nước mặc nhiên đẩy tỷ giá hay hạ lãi suất đồng tiền nước mình tới đáy để thoát hiểm và gây vấn đề cho thiên hạ.
3 loại vấn đề để người đọc mường tượng ra trận đánh rắc rối trong chính trườngtrên thị trường của nước Mỹ.
Thứ nhất là thủ tục pháp lý để Đặc sứ Thương mại có thể đại diện Hành pháp mà rộng quyền thương thuyết với các nước cho đến khi hoàn tất thì xin Quốc hội biểu quyết để thông qua.
Thứ hai là nội dung thương thuyết bao hàm nhiều quy định về thuế suất mậu dịch vốn phải thỏa mãn giới xuất cảng lẫn giới nhập hàng từ bên ngoài vào để chế biến ra thành phẩm cho thị trường Mỹ.
Vấn đề thứ ba là tỷ giá đồng tiền cao hay thấp khiến hàng của mình đắt hay rẻ. Hai vấn đề sau này lại gây mâu thuẫn cho tiến trình đàm phán hiệp định TPP vì cột tay Đặc sứ Thương mại Hoa Kỳ.
Khi thương thuyết về quy chế xuất nhập khẩu thì ai cũng muốn hạ thuế suất và hạn ngạch để khuếch trương mậu dịch giữa các nước. Nhưng nếu nước A đồng ý giảm thuế nhập nội để hàng hóa của Mỹ bán cho dễ mà lại can thiệp vào thị trường ngoại hối để có tỷ giá đồng tiền nước A thấp hơn và dễ bán hàng hơn thì có nghĩa là nước này nhường một bước về mâụ dịch mà lại lấn một bước về ngoại hối. Đấy là khung cảnh chung của trận đánh bên trong Hoa Kỳ hiện nay.
Nói chung thì có hai phe lâm chiến tại Hoa Kỳ.
Một số dân biểu nghị sĩ, nghiệp đoàn và doanh nghiệp chế biến tại Mỹ thì đòi bao gồm vấn đề ngoại hối vào tiến trình đàm phán mậu dịch để tránh cái nạn tay này thì cho mà tay kia lấy lại.
Thí dụ như Nhật hạ hàng rào quan thuế để hàng Mỹ dễ bán tại Nhật, mà Ngân hàng Trung ương Nhật lại bơm tiền ra và mặc nhiên can thiệp vào thị trường ngoại hối để có đồng bạc rẻ hơn và dễ bán hàng Nhật cho thị trường Hoa Kỳ. Họ gọi đó là nạn cạnh tranh bất chính bằng ngoại tệ rẻ. Các doanh nghiệp xe hơi Mỹ đều ủng hộ việc này. Họ đang vận động không cho tái tục thủ tục thương thuyết nhanh và dọa là sẽ chống hiệp định TPP nếu không có điều khoản trừng phạt nạn lũng đoạn ngoại hối. Tất nhiên là nếu lại có điều khoản ấy thì các đối tác kia lại không chịu
Ngược lại, Hành pháp Obama và các tập đoàn đa quốc của Hoa Kỳ có hàng hoá và dịch vụ trên toàn cầu thì nêu ý kiến là phải tách biệt hai loại vấn đề này thì mới khai thông được ách tắc. Cụ thể là Đặc sứ Thương mại nên tập trung giải quyết những trở ngại về mậu dịch với các đối tác. Còn lại, nếu xứ nào can thiệp vào thị trường ngoại hối hoặc vi phạm cái tội gọi là lũng đoạn ngoại tệ thì vấn đề sẽ do Bộ Ngân khố điều tra và xử lý. Ngoài ra, Chính quyền Obama cũng chủ trương là sẽ nêu vấn đề ngoại hối đó trên các diễn đàn quốc tế như hội nghị G-20 hoặc qua cơ chế chuyên trách là Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF
Từ nhiều năm qua, Chính quyền Obama hết nêu vấn đề lũng đoạn như vậy và cũng chẳng còn kết án Trung Quốc nữa dù Quốc hội có nhắc nhở hoài. Nhưng ngày nay, nạn chiến tranh ngoại tệ đã lan rộng và Quỹ IMF hay các diễn đàn quốc tế chưa đề ra biện pháp giải quyết, vốn dĩ là điều không dễ. Chính là chuyện ấy mới khiến nhiều phe phái tại Mỹ nhảy vào cuộc và đòi gài thêm biện pháp trừng phạt về ngoại hối vào nội dung đàm phán hiệp định TPP và nếu không được thì sẽ không cho tái tục đạo luật về thủ tục Fast Track.
Chúng ta cũng chẳng quên rằng phe cực tả trong đảng Dân Chủ vẫn còn khá mạnh và triệt để cột tay Hành pháp Dân Chủ với nhiều điều kiện về môi sinh, lao động và kinh doanh nên Hành pháp Obama rất khó xoay trở trước sức ép ở bên trong nội bộ. Nạn USD lên giá quá mạnh càng chẳng giúp gì cho việc khai thông vì giới kinh tế tính ra là mỗi khi đô la tăng 1% so với các ngoại tệ mạnh khác thì kinh tế Mỹ có thể thiệt mất 35 tỷ đô la trong mấy năm sau.
Chính quyền Barack Obama mất khà năng lãnh đạo trong thực tế vì không giải thích nổi từ nội bộ Dân Chủ ra tới Quốc hội mối quan tâm của mình về cái vấn đề khá thiết thực cho nhiều người. Nếu giải thích được và chứng minh là sẽ tích cực giải quyết chuyện ngoại hối qua nhiều phương thức khác, kể cả một số biện pháp cụ thể từ Bộ Ngân khố, thì may ra giải tỏa được nhiều chướng ngại về pháp lý lẫn chính trị để thúc đẩy việc đàm phán hiệp ước TPP cho đến khi có kết quả. Ngày nay, sự lần lữa đó lại khiến hồ sơ TPP trở thành con tin trong một trận đánh nội bộ của nước Mỹ. Vì vậy, cái tiêu chí hoàn thành hồ sơ TPP trong năm nay có thể bị đẩy qua năm tới. Mà năm tới lại là một năm có Tổng tuyển cử nên chính trường Mỹ lại càng thêm sôi sục với nhiều vấn đề mới.
Nếu muốn khai thông hồ sơ và chứng tỏ khả năng lãnh đạo của nước Mỹ với các quốc gia khác thì Hành pháp Hoa Kỳ phải yêu cầu hai bộ Ngân khố và Thương mại lẫn Đặc sứ về Thương mại cùng thảo luận với nhau rồi gặp Chủ tịch các ủy ban liên hệ tại Thượng và Hạ viện để điều trần về từng biện pháp sẽ áp dụng. Mục đích là để chứng tỏ thứ nhất là sự quan tâm của Chính phủ, thứ hai là để thuyết phục về khả năng xử lý vấn đề. Khi đó, và với sự hỗ trợ của đảng Cộng Hoà, may ra Quốc hội sẽ đồng ý cho Tổng thống áp dụng quyền thương thảo nhanh gọn mà đạt một số kết quả đàm phán về hồ sơ TPP. Trong hiện tại và qua cách ứng xử với Quốc hội mới, người ta khó tin là Hành pháp Obama sẽ cố gắng được như vậy và chuyện TPP lại bị đình hoãn nữa.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Nhóm VIP đã vào hàng dòng dầu khí và kiếm 23% chắc ăn trong tháng 3.2015

Dòng dầu khí đã hội đủ tất cả yếu tố thiên thời địa lợi, nhân hòa và kết hợp với kế hoạch tác chiến của nhóm tinh anh thống trị thị trường tài chính xứ Việt, do đó cơ hội mua vùng đáy rất lớn. Mua và có lời hơn 19%.

Các tin tốt hỗ trợ ngành dầu khí như sau:

Thứ nhất, giá cổ phiếu dầu khí đã tích lũy đủ lâu (hơn 3 tháng) tạo mặt bằng giá mới và ngon. Giống cổ phiếu bank tích lũy từ tháng 5 - 11.2014 và bật mạnh trong 3 tháng vừa qua (từ tháng 12.2014 đến tháng 2.2015)
Thứ hai, giá dầu thế giới tháng 3 lên lại 55 - 57 usd/thùng và tháng 4 lên lại 64 - 65 usd/thùng
Thứ ba, gần tới thời gian công bố báo cáo hợp nhất, kiểm toán của ngành dầu khí năm 2014 với lợi nhuận cao ngất ngưỡng
Thứ tư, năm 2015 lợi nhuận ngành dầu khí cũng cao đột biến vì: ngành dầu khí mấy năm trước có lợi nhuận nhiều nhưng họ dấu lãi, không công bố vì lúc đó ttck không thuận lợi, họ để năm 2014-2016 sẽ dồn lãi lại ; mặc dù giá dầu giảm nhưng ngành dầu khí có tỷ trọng cao trong cách tính GDP, con cưng của nhóm tinh anh, nên có chính sách hỗ trợ đặc biệt với ngành dầu khí
Thứ năm, lãi suất cho vay giảm và phá giá VND thêm 1-2% nữa, do đó ngành dầu khí lại được ưu tiên và lợi nhuận đột biển

Kết luận: với tất cả yếu tố cực tốt nên ngành dầu khí sẽ trở lại là cổ phiếu vua của 2 sàn sắp tới

Kế hoạch mua cổ phiếu dòng P của nhóm VIP như sau:

PVC gom hàng xong giá 23,1 - 23,7

PXS gom hàng xong giá 20,3 - 21

PVD gom hàng xong giá 26,8 - 27,3

PVD gom hàng xong giá 57.5 - 58.7

PVT gom hàng xong 13,4 - 14,1

PET gom hàng xong giá 21,3 - 21,7

P/S: nào chúng ta cùng nâng lý rượu vang Rothschild để ăn mừng cổ phiếu dầu khí dậy sớm nhé. Cheer.

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

'IS là đội quân do chính phủ Mỹ bí mật thành lập'

Hãng tin Sputnik (Nga) dẫn lời một nhà sử học Mỹ cáo buộc Nhà nước Hồi giáo (IS) là đội quân mà chính phủ Mỹ bí mật xây dựng để gây bất ổn ở Trung Đông.
Các tay súng của lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng. Ảnh: AP
Các tay súng của lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng. Ảnh: AP
Nhà nghiên cứu lịch sử người Mỹ, ông Webster Tarpley, cho rằng thủ lĩnh Abu Bakr al-Baghdadi của IS vốn là người có quan hệ thân cận với thượng nghị sĩ John McCain. 
Ông Tarpley là chuyên gia lịch sử từng gây tranh cãi khi xuất bản một quyển sách về vụ khủng bố 11/9, với nội dung nhấn mạnh những tổ chức khủng bố trên toàn thế giới đều do chính phủ Mỹ đứng sau hỗ trợ.Đây không phải lần đầu tiên ông Tarpley cáo buộc Washington liên quan đến việc thành lập IS. Trước đó, đài Press TV (Iran) cũng từng phỏng vấn ông Tarpley về những lý do mà ông cho rằng chính phủ Mỹ góp phần tạo nên IS.
Theo Tarpley, một trong những nguồn cung tiền chính cho IS và các hoạt động của tổ chức khủng bố này đến từ Saudi Arabia, đồng minh chủ chốt của Mỹ trong khu vực Trung Đông. Ông cáo buộc người quyên tiền chính cho IS là Hoàng thân Abdul Rahman al-Faisal, người nhà của Ngoại trưởng Saudi Arabia, và Hoàng thân Turki bin Faisal Al Saud từng giữ chức đại sứ ở Mỹ.Do vậy, Tarpley kết luận rằng, nếu Mỹ thực sự muốn loại bỏ IS thì chỉ cần ra tối hậu thư cho Saudi Arabia để yêu cầu vương quốc này chấm dứt tài trợ vũ khí và khủng bố cho IS.

Lý do thứ 2, theo ông Tarpley, nằm ở vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ, vốn là quân đội lớn trong khối NATO và nằm sát bên Syria lẫn Iraq. Ông Tarpley chất vấn, tại sao quân đội Thổ Nhĩ Kỳ không đến lập lại trật tự ở những vùng mà IS đang hoành hành và quét sạch phiến quân, trong khi Mỹ và NATO kiên quyết tiêu diệt IS.
Nhà sử học người Mỹ hoài nghi việc Washington dù rất muốn tiêu diệt IS nhưng kiên quyết từ chối liên minh với chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad.
Điểm cuối cùng, theo ông Tarpley, liên quan đến việc phiến quân IS sử dụng mạng xã hội và Internet để đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền, chiêu mộ những tay súng mới. Tarpley cho rằng những công ty Internet lớn đều đặt trụ sở ở Mỹ, do vậy Nhà Trắng có thể dễ dàng hạn chế sự hiện diện của IS trên Internet nến các quan chức muốn như vậy.
Trang Sputnik cho rằng quan điểm của ông Tarpley có thể đối lập và gây tranh cãi với nhiều người, nhưng các câu hỏi mà ông đặt ra đều quan trọng. Hãng tin Nga lưu ý sự trỗi dậy của al-Qaeda trong quá khứ có liên quan đến sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại Afghanistan hồi thập niên 1980. Do al-Qaeda là tổ chức khai sinh ra IS nên giữa chính phủ Mỹ và các phiến quân có thể tồn tại sự liên quan.
 

Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2015

Ý nghĩa lịch sử chuyến thăm Trung Quốc của TT Nixon

10974212_945727245450960_8086250894284981668_o

Vào ngày này cách đây đúng 43 năm (21/2/1972), Tổng thống Mỹ Nixon bắt đầu chuyến thăm lịch sử đến Trung Quốc. Chuyến thăm này diễn ra sau sự kiện ngoại giao bóng bàn, các cuộc đàm phán ngoại giao bí mật cấp đại sứ giữa đại sứ Mỹ và đại sứ Trung Quốc tại Warsaw (Ba Lan) và chuyển đi bí mật của Ngoại trưởng Henry Kissinger đến Bắc Kinh trước đó. Sự kiện này không chỉ là bước ngoặt, dấu ấn nổi bật của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, mà còn của cả quan hệ quốc tế thời kỳ hậu Thế chiến II nữa. Lý do khiến chuyến thăm trở nên đặc biệt bao gồm:

Một, lần đầu tiên trong lịch sử gần 200 của nước Mỹ, Tổng thống Mỹ đến thăm chính thức một quốc gia trên danh nghĩa vẫn là “kẻ thù” (từ sau cuộc chiến Triều Tiên 6/1950-7/1953) và là nước Mỹ không có quan hệ ngoại giao.

Hai, chuyến thăm mở ra thời kỳ “hòa hoãn mới” (new détente) giữa Trung Quốc và Mỹ, mở đường cho việc Mỹ công nhận và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc ngày 1/1/1979. Điều này tạo ra bước ngoặt mới trong quan hệ tay ba Mỹ-Trung-Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và giúp Trung Quốc đạt được mục tiêu của mình là được thừa nhận như một “cực” mới (new pole), bên cạnh 2 cực Mỹ, Xô.

Cần nhớ rằng, theo nhận thức “kinh điển” về Chiến tranh Lạnh thì thế giới chia thành hai phe Đông-Tây, với Mỹ và Liên Xô mỗi bên lãnh đạo 1 cực. Tuy nhiên, trên thực tế thì thế giới giai đoạn này không chỉ chứng kiến 1 cuộc Chiến tranh lạnh Xô-Mỹ, mà còn chứng kiến 2 cuộc “chiến tranh lạnh” khác nữa là Chiến tranh lạnh Trung-Nga (kéo dài từ 1959-1989) và Chiến tranh lạnh Mỹ-Trung (1953-1972). Xét trong bối cảnh quan hệ các nước lớn và quan hệ quốc tế thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chuyến thăm đã giúp “phá băng” một cuộc “chiến tranh lạnh”, đồng thời Trung Quốc được thừa nhận như 1 cực, 1 nước lãnh đạo của Thế giới thứ Ba.

Ba, chuyến đi đặt nền móng cho việc bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ 1/1/1979 sau này, cũng như tạo nền tảng cho thành công của cải cách và mở cửa của Trung Quốc sau đó. Điều nghịch lý là nhờ vào quan hệ với Mỹ, thị trường Mỹ mà Trung Quốc trở thành cường quốc số 2 về kinh tế của thế giới và hiện Trung Quốc đang cạnh tranh quyết liệt với Mỹ để trở thành cường quốc số 1 thế giới.

Bốn, Thông cáo chung Thượng Hải lần thứ nhất (ký ngày 27/2/1972) gồm các điều khoản chính (i) Hai nước chấm dứt tình trạng thù địch; (ii) Mỹ công nhận chính sách một nước Trung Quốc, thừa nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là đại diện duy nhất của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc, thay thế vị trí của Đài Loan; (iii) Mỹ sẽ thiết lập cơ quan đại diện thương mại Mỹ để thúc đẩy quan hệ kinh tế – thương mại Mỹ – Trung; (iv) Mỹ sẽ giảm dần việc rút quân và bán vũ khí cho Đài Loan.

Thông cáo chung Thượng Hải lần thứ nhất này cùng với Thông cáo chung Thượng Hải lần thứ hai và thứ ba (ký năm 1979 và 1982) đã tạo khuôn khổ cho quan hệ Mỹ – Trung, Mỹ – Đài Loan từ 1972 đến nay và cả sau này nữa.

Đoạn viết về quan hệ Mỹ – Trung và Trung Quốc – Đài Loan trong cả 3 thông cáo chung là kết quả của quá trình đàm phán gay go, phức tạp, và được các nhà ngoại giao Mỹ “cài” bằng những câu văn hết sức khéo léo, chặt chẽ nhưng lại ẩn chứa sự “mập mờ về chiến lược” (strategic ambiguity), và ở góc độ nào đó đây có thể xem là những “văn bản mẫu” đối với những người làm đối ngoại, nghiên cứu chiến lược. Dựa vào các thông cáo chung này, Mỹ diễn giải theo cách: (i) ngăn cản Trung Quốc sử dụng vũ lực đối với Đài Loan, nhờ vậy vẫn giữ được quan hệ hai bờ ổn định; (ii) Ngăn Đài Loan độc lập; (iii) Vẫn bán vũ khí và cam kết bảo vệ nền độc lập của Đài Loan.

Năm, Việt Nam, vốn là nước chịu những tác động cả trực tiếp lẫn gián tiếp từ chuyến đi, nên đã theo dõi chặt quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Mỹ.

Lúc này cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta đang diễn ra vô cùng ác liệt và Trung Quốc khi đó là một trong 2 đồng minh quan trọng nhất của Việt Nam. Do đó việc theo dõi kỹ chuyến đi là hoàn toàn dễ hiểu. Đoạn Thông cáo chung, đoạn được nghiên cứu kỹ nhất là đoạn nói về sự liên hệ giữa cải thiện quan hệ Trung-Mỹ với việc giảm xung đột quân sự quốc tế, vốn được xem là hàm ý về chiến tranh Việt Nam (Nguyên văn: Progress toward the normalization of relations between China and the United States is in the interests of all countries; both wish to reduce the danger of international military conflict – Tiến triển hướng tới việc bình thường hóa quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ là lợi ích của tất cả các nước; hai bên mong muốn giảm nguy cơ của xung đột vũ trang quốc tế).

Lý do đằng sau là Việt Nam lo ngại sự “thỏa hiệp”, “đi đêm” giữa 2 nước lớn này sẽ phương hại đến lợi ích của nhân dân Việt Nam; Trung Quốc sau đó có thể “tác động” đến cuộc chiến giải phóng miền Nam để “đánh đổi” lấy việc bình thường hóa.

Cách xử lý hết sức bình tĩnh, cương quyết nhưng khôn khéo và bề ngoài coi như không có chuyện gì xảy ra của các lãnh đạo cao nhất Việt Nam là một tấm gương và kinh nghiệm quý báu để lớp con cháu xử lý các vấn đề lớn sau này.

Thực tế cho thấy, bằng việc thực thi một chính sách đối ngoại độc lập, dựa trên lợi ích quốc gia chúng ta vẫn thực hiện được mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất nước. Và đây cũng là một trong những lý do chính làm “hỏng” phần quan trọng trong chuyến đi Trung Quốc của Nixon, khiến 2 nước mất 7 năm sau chuyến đi này mới bình thường hóa được quan hệ.

Hoàng Anh Tuấn

TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.

(Nghiên Cứu Quốc Tế)